vanban.org

Bản án 139/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí vả lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí vả lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 02/2011/TT-NHNN Quy định mức lãi suất huy động v…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2022/DS-ST
Ngày: 19/8/2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đoan Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Ngọc Minh;

2. Ông Khưu Hán Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân Quận

11, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2020/TLST-DS ngày 05tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín;

địa chỉ: Lầu 8, số 266-268 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Minh T, sinh năm 1973; địa chỉ: Số

224 đường L, Phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh - là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/10/2020) - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989; hộ khẩu thường trú: Số

37/15 đường T, Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản không tiến hành hòa giải

được và tại Biên bản về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn trình bày:

Ngày 23/10/2014, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương

Tín và ông Nguyễn Hoàng T có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 7.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 177.371.550 đồng, đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 184.665.000 đồng. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên vào ngày 05/6/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thể và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T thanh toán

khoản nợ trên, tiếp tục tính lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại Hợp đồng và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bản Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cho đến khi ông Nguyễn Hoàng T thực tế thanh toán hết nợ. Tạm tính đến ngày 19/8/2022 là 9.024.886 đồng, trong đó nợ gốc là 4.587.670 đồng và lãi quá hạn là 4.437.216 đồng. Đồng thời, ông T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/8/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

2. Bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thu thập

chứng cứ về nơi cư trú của bị đơn, theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh: “Đương sự Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 37/15 T, Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, gia đình bán nhà năm 2007. Đến tạm trú tại số 44/32 đường số 7, khu phố X, phường Hiệp Bình Chánh, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Và theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường Hiệp Bình Chánh, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh: “Tại địa chỉ 44/32 đường số 7, khu phố X, phường Hiệp Bình Chánh, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai tên Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989 cư ngụ”

Trong suốt quá trình giải quyết vụ kiện, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ

các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện và cũng không có ý kiến phản hồi.

Tại phiên tòa hôm nay:

* Đại diện nguyên đơn ông Đặng Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

và giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại bản tự khai ngày 19/8/2022. Yêu cầu Tòa án xem xét: buộc ông Nguyễn Hoàng T phải thanh toán ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 19/8/2022 là 9.024.886 đồng trong đó nợ gốc là 4.587.670 đồng và lãi quá hạn là 4.437.216 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Và yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 20/8/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất theo quy định của Hợp đồng.

* Bị đơn đã được Tòa án nhân dân Quận 11 triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn

vắng mặt, không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện

và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án thực hiện thủ tục niêm yết hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo. Tuy nhiên, Thẩm phán cần chú ý đảm bảo về thời hạn tống đạt thông báo thụ lý, thời hạn chuẩn bị xét xử.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của

nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là

Sacombank) khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Nguyễn Hoàng T. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: 37/15 Trịnh Đình Trọng, Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh “Đương sự Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 37/15 Trịnh Đình Trọng, Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, gia đình bán nhà năm 2007. Đến tạm trú tại số 44/32 đường số 7, khu phố 1, phường Hiệp Bình Chánh, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh”. Và theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường Hiệp Bình Chánh, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh: “Tại địa chỉ 44/32 đường số 7, khu phố X, phường Hiệp Bình Chánh, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai tên Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1989 cư ngụ”

Như vậy, tại thời điểm thụ lý vụ án, ông T không cư trú tại địa chỉ: 37/15

đường Trịnh Đình Trọng, Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh và cũng không cư trú tại địa chỉ 44/32 đường số 7, khu phố X, phường Hiệp Bình Chánh, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án không xác định được địa chỉ nơi ông Tân đang thực tế cư trú. Ông T đi khỏi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Sacombank biết là vi phạm hợp đồng. Đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện được Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/7/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Do đó Tòa án xác định địa chỉ số 37/15 Trịnh Đình Trọng, Phường X, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Hoàng T đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử

vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do. Ngày 04/7/2022, Sacombank có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng ông T và Sacombank theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3. Xét yêu cầu của nguyên đơn:

+ Đối với nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày

23/10/2014 giữa SacomBank và ông Nguyễn Hoàng T thì giao dịch giữa ngân hàng với ông T được xác định là giao dịch vay tài sản. Giao dịch giữa đôi bên được xác lập trên cơ sở bình đ ng, tự nguyện nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của đôi bên đối với nhau. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông B đã giao dịch và thanh toán cho ngân hàng với số tiền là 177.371.550 đồng. Từ ngày 05/6/2020 ông Tân không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào cho SacomBank.Tính đến nay, ông T còn nợ SacomBank số tiền nợ gốc là 9.024.886 đồng

+ Đối với lãi: Mức lãi suất nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được quy

định trong Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Xét thấy, việc thỏa thuận mức lãi suất này là hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng và phù hợp với Quy chế cho vay 1627 ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, nguyên đơn cũng đã tuân thủ những quy định về niêm yết công khai lãi suất cho vay và có báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất cho vay theo quy định tại Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Do đó, với yêu cầu buộc ông Nguyễn Hoàng T phải thanh toán số tiền lãi quá hạn là 4.437.216 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 11 đã ban hành

Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa trong đó có ghi r nội dung khởi kiện của Ngân hàng và gửi cho ông Nguyễn Hoàng T. Các tài liệu vừa nêu đã niêm yết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông T cố tình vắng mặt và không có văn bản phản hồi ý kiến đối với nội dung trình bày của nguyên đơn. Do vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì những nội dung mà nguyên đơn đã trình bày được xem là xác thực và được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án. Việc bị đơn không đến Tòa án là đã từ bỏ quyền được chứng minh, phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về số nợ gốc và lãi được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện

của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn: số tiền 9.024.886 đồng (trong đó nợ gốc là 4.587.670 đồng và tiền lãi là 4.437.216 đồng).

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật thì ông T còn phải tiếp tục trả lãi

cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận trong Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín, tính từ ngày 20/8/2022 cho đến khi trả hết nợ gốc.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2011;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí vả lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài

Gòn Thương Tín.

Buộc Nguyễn Hoàng T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ

phần Sài Gòn Thương Tín số tiền là 9.024.886 đồng (Chín triệu không trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm tám mươi sáu đồng); trong đó nợ gốc là 4.587.670 đồng và tiền lãi là 4.437.216 đồng), ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 20/8/2022 ông Tân còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng

Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín cho đến khi trả hết nợ gốc.

Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ

quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về án phí:

Ông Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 451.244 đồng

(bốn trăm năm mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi bốn đồng).

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số

tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2019/0015970 ngày 02/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày

tuyên án. Ông Nguyễn Hoàng T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ