- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Công T - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lê Công T 01 năm 03 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án và được khấu trừ thời gian đã tạm giam ( từ 05/6/2019 đến ngày 01/11/2019 ).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 139/2020/HS-PT Ngày 10/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huờn
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn và ông Văn Công Dần
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Nguyên là Thư ký Tòa án
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa:
Ông Trần Văn Huy - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa ngày 10/6/2020, tại trụ sở TAND tỉnh Đăk Lăk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2020/TLPT-HS ngày 07/5/2020, đối với bị cáo Lê Công T, do có kháng cáo của bị cáo, đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2020/HS-ST ngày 27/3/2020 của TAND huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
LÊ CÔNG T, sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk
Nơi cư trú: Thôn PL 5, xã E, huyện KP, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Lê Văn N, sinh năm 1962 và bà: Nguyễn Thị Kim C sinh năm 1968.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/6/2019, được thay đổi bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh ngày 01/11/2019, hiện đang tại ngoại: Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau sau:
Tháng 10/2018, Lê Công T sử dụng điện thoại Iphone 5s, số thuê bao 0369747347 tạo lập tài khoản Zalo có tên “Lê Duyên” và dùng hình ảnh của một người phụ nữ, trẻ đẹp lấy trên mạng xã hội, làm hình đại diện cho tài khoản Zalo “ Lê Duyên”; T tải một số hình ảnh phụ nữ khoả thân trên mạng xã hội lưu vào máy điện thoại; Sau đó, T giả là phụ nữ, chủ động dùng tài khoản Zalo “ Lê Duyên” kết bạn với các Zalo nam giới và nhắn tin giới thiệu mình là Lê Thị Thanh D chưa có chồng, đang tìm bạn trai; Trong quá trình nhắn tin nói chuyện tình cảm với những người này, T gửi hình ảnh phụ nữ khoả thân cho những người này và dụ dỗ họ gửi cho T hình ảnh sex chụp rõ khuôn mặt; Sau khi có hình ảnh sex của người bị hại, T nhắn tin đe doạ yêu cầu người bị hại gửi tiền cho T vào tài khoản số 050095067317 của Lê Thị Thanh D là chị ruột của T, mở tại Ngân hàng Sacombank - Phòng giao dịch KP, thuộc Chi nhánh Đắk Lắk; Nếu người bị hại không gửi tiền cho T, T sẽ đăng tải hình ảnh sex của người bị hại lên mạng xã hội, làm cho người bị hại lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, nên đã gửi tiền cho T. Bằng thủ đoạn đe doạ nêu trên, trong thời gian từ ngày 02/10/2018 đến ngày 05/6/2019, T đã chiếm đoạt tài sản của 14 người bị hại, với tổng số tiền 13.950.000đ; Cụ thể như sau:
Ngày 02/10/2018, T chiếm đoạt 500.000đ của anh Châu Văn M; Ngày 13/10/2018 và ngày 08/11/2018, T chiếm đoạt 1.500.000đ của anh Đặng Duy T; Ngày 21/11/2018, T chiếm đoạt 300.000đ của anh Phan Văn T; Ngày 18/12/2018, T chiếm đoạt 450.000đ của anh Phạm Thành C; Ngày 19/12/2018, T chiếm đoạt 1.400.000đ của anh Đặng Đức S; Ngày 26/3/2019 và ngày 28/3/2019, T chiếm đoạt 1.000.000đ của anh Lê Văn H; Ngày 01/4/2019, T chiếm đoạt 200.000đ của anh Đinh Trọng T; Tháng 5/2019, T chiếm đoạt 1.350.000đ của anh Mai Anh T; Ngày 18/5/2019, T chiếm đoạt 1.450.000đ của anh Võ Tấn A; Ngày 04/6/2019, T chiếm đoạt 1.100.000đ của anh Trần Văn N; Ngày 05/6/2019, T chiếm đoạt 1.000.000đ của anh Phan Đình H.
Ngày 04/6/2019, T chiếm đoạt của anh Lương Minh P 500.000đ; Sáng ngày 05/6/2019, T tiếp tục yêu cầu anh P gửi tiếp 600.000đ vào tài khoản nêu trên cho T, anh P đã làm đơn tố cáo hành vi phạm tội của T với Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pắc; Ngoài ra, T còn chiếm đoạt 3.000.000đ của Zalo “ Phạm Hùng” và 200.000đ của Zalo “ Hải Trần” nhưng cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch của người bị hại.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2020/HS-ST ngày 27/3/2020 của TAND huyện Krông Pắc, đã áp dụng: Khoản 1 Điều 170; Điều 38; Các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm g Điều 52 BLHS.
Xử Phạt: Lê Công T 02 năm tù, về tội Cưỡng đoạt tài sản.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết bồi thường, xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 07/4/2020, bị cáo Lê Công T có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt tù và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Công T khai nhận: Trong thời gian từ ngày 02/10/2018 đến ngày 05/6/2019, bị cáo lợi dụng mạng xã hội tạo lập tài khoản Zalo có tên “ Lê Duyên” và dùng hình ảnh của một người phụ nữ trẻ đẹp lấy trên mạng xã hội, làm hình đại diện cho tài khoản Zalo “Lê Duyên”; Sau đó, bị cáo giả là phụ nữ để kết bạn với các Zalo nam giới và nhắn tin trò chuyện nói rằng mình là Lê Thị Thanh D chưa chồng, đang tìm bạn trai; Bị cáo dụ dỗ các Zalo nam giới gửi hình ảnh sex của họ cho bị cáo; Sau khi có hình ảnh sex của người bị hại, bị cáo đe doạ yêu cầu người bị hại gửi tiền vào tài khoản của chị gái của bị cáo là Lê Thị Thanh D, tại Ngân hàng Sacombank, nếu không gửi tiền, bị cáo sẽ đăng tải hình ảnh sex của người bị hại lên mạng xã hội, làm cho người bị hại lo sợ ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm, nên đã gửi tiền cho bị cáo; Bằng thủ đoạn nêu trên, bị cáo đã chiếm đoạt tiền của rất nhiều người, bị cáo không còn nhớ rõ; Số tiền 13.950.000đ, mà Lê Thị Thanh D rút tại Phòng giao dịch huyện KP và giao nộp cho cơ quan công an, là tiền do bị cáo chiếm đoạt của nhiều người bị hại trong vụ án.
Tại phiên tòa đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk cho rằng: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lê Công T phạm tội Cưỡng đoạt tài sản, theo khoản 1 Điều 170 BLHS năm 2015 là đúng pháp luật. Hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là thỏa đáng và đã xem xét đầy đủ đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Xét lời khai của bị cáo Lê Công T tại phiên tòa phúc thẩm, là phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[2] Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Do động cơ vụ lợi, trong thời gian từ ngày 02/10/2018 đến ngày 05/6/2019, Lê Công T đã lợi dụng mạng xã hội, tạo lập tài khoản Zalo lấy tên “ Lê Duyên” và dùng hình ảnh của một người phụ nữ trẻ, đẹp làm hình ảnh đại diện Zalo “ Lê Duyên”. T giả là phụ nữ kết bạn với người bị hại là nam giới qua Zalo, nhắn tin trò chuyện giới thiệu mình là Lê Thị Thanh D chưa chồng, đang tìm bạn trai và gửi hình ảnh phụ nữ khoả thân che khuôn mặt cho người bị hại, đồng thời yêu cầu người bị hại gửi hình ảnh sex cho bị cáo. Sau khi có hình ảnh sex của người bị hại, T nhắn tin đe doạ yêu cầu người bị hại gửi tiền vào tài khoản của Lê Thị Thanh D là chị gái của T, nếu không gửi tiền T sẽ đăng tải hình ảnh sex của người bị hại lên mạng xã hội, làm cho người bị hại lo sợ ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm, nên đã gửi tiền cho T; Bằng thủ đoạn nêu trên, T đã chiếm đoạt tài sản của 14 người bị hại là Châu Văn M, Đặng Duy T, Phan Văn T, Phạm Thành C, Đặng Đức S, Lê Văn H, Đinh Trọng T, Mai Anh T, Võ Tấn A, Trần Văn N, Phan Đình H, Lương Minh P và hai người khác là Zalo “ Phạm Hùng” và Zalo “ Hải Trần” với tổng số tiền chiếm đoạt là 13.950.000đ.
Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử Lê Công T phạm tội Cưỡng đoạt tài sản, theo khoản 1 Điều 170 BLHS là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
[4] Xét mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Lê Công T là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 170 BLHS nhưng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Công T, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Xử phạt: Lê Công T 01 năm 03 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án và được khấu trừ thời gian đã tạm giam ( từ 05/6/2019 đến ngày 01/11/2019 ).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Công T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VP CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Pắc; - VKSND huyện Krông Pắc; - Công an huyện Krông Pắc; - Cơ quan THAHS huyện Krông Pắc; - CC THA DS huyện KP; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Huờn |