vanban.org

Bản án 139/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc K, sửa Bản án sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 05-5- 2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về phần hình ph t như sau:

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91 và Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử ph t bị cáo Nguyễn Quốc K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hư ng án treo. Thời thử thách là 01 năm 06 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc K, sửa Bản án sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 05-5- 2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về phần hình ph t như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2020/HS-PT
Ngày: 07-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Th m phán - Ch t a phiên t a: Bà Nguyễn Thị Sang;

Th m phán thành viên: 1. Ông Trần Văn Luông;

2. Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 03 và 7 tháng 9 năm 2020, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số: 91/2020/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Quốc K. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 05-5-2020 cuả Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Quốc K, sinh ngày 12-8-2000 t i tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: ấp H, xã B, Nguyễn Nhựt Hện G, tỉnh Kiên Giang; t m trú t i: Số 32, đường số 13, khu phố N1, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Quốc L và bà Chiêm Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị bắt t m giam từ ngày 27-12-2019 đến ngày 22-01-2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định về việc bảo lĩnh; bị cáo t i ngo i, có mặt t i phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hữu T, Luật sư Văn phòng Luật sư Th c và Công sự, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Ngoài ra, trong v án còn có bị cáo, bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào thời gian tháng 01 và tháng 02 năm 2018, Nguyễn Quốc K cùng với các bị cáo Nguyễn Nhựt H, Nguyễn Quang L, Luân và Nguyễn Văn T mang theo công c phá khóa và đi bộ trong khu vực địa bàn phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương thời gian từ 00 giờ đến 05 giờ sáng hàng ngày để tìm nhà trọ khóa cửa ngoài, không có người trông coi dùng công c mang theo phá khóa cửa phòng trọ, vào trong tìm tài sản để chiếm đo t. Với phương thức, thủ đo n như trên, Nguyễn Quốc K và đồng ph m chiếm đo t được những tài sản như sau:

Vụ 1: Vào ngày không rõ, khoảng cuối tháng 01-2018, bị cáo Nguyễn Quốc K, Nguyễn Nhựt H, Nguyễn Quang L cùng bị cáo Nguyễn Văn T, lén lút chiếm đo t được 01 chiếc xe Dream Trung Quốc biển số 51X3-8043 của ông Nguyễn Văn H t i chân cầu thang nhà trọ số 36/21 khu phố Thống Nhất 1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, Nguyễn Văn T mang bán cho tên Hùng (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 700.000 đồng, rồi chia nhau tiền tiêu xài. Hiện, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không thu hồi được xe Dream Trung Quốc biển số 51X3-8043.

Vụ 2: Vào ngày 06-02-2018, bị cáo Nguyễn Quốc K, Nguyễn Nhựt H và Luân, lén lút chiếm đo t được 01 chiếc xe Dream biển số 79F1-8576 của bà Nguyễn Thị Nam và 01 đôi bông tai trọng lượng 2 phân 9 ly lo i vàng 18K t i phòng trọ số 10 của dãy nhà trọ địa chỉ số 18B/22 khu phố Thống Nhất 1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Sau khi chiếm đo t thì tên Nguyễn Nhựt H đem xe Dream biển số 79F1-8576 về phòng trọ tên Nguyễn Nhựt H cất giấu.

Đến ngày 27-2-2018, bị cáo Nguyễn Văn T đến phòng trọ của Nguyễn Nhựt H đòi nợ số tiền 600.000đ thì Nguyễn Nhựt H nói cho Nguyễn Văn T biết xe Dream biển số 79F1-8576 là do Nguyễn Nhựt H mới đi trộm mà có và nhờ bị cáo Nguyễn Văn T đem bán để trả nợ. Bị cáo Nguyễn Văn T đem xe đi bán cho 01 người thanh niên không rõ lai lịch t i khu Arecco thuộc phường Đông Hòa, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương với giá 800.000 đồng. Đối với 01 đôi bông tai trọng lượng 2 phân 9 ly lo i vàng 18K thì bị cáo Nguyễn Quốc K mang bán t i tiệm vàng “Kim Nguyễn Nhựt Hền” thuộc khu phố N1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương được 680.000 đồng, sau đó các đối tượng chia nhau tiền tiêu xài. Hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không thu hồi được xe Dream biển số 79F1-8576 và 01 đôi bông tai trọng lượng 2 phân 9 ly lo i vàng 18K.

Vụ 3: Vào ngày 14-02-2018, bị cáo Nguyễn Quốc K và Nguyễn Nhựt H lén lút chiếm đo t được chiếc xe Wave màu xanh Trung Quốc, biển số: 70L2-1840 của ông Tia Minh Dư t i phòng trọ số 21, địa chỉ số 18C/22 khu phố Thống Nhất 1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Sau đó Nguyễn Nhựt H thay biển số 70L2-1840 thành biển số 78H8- 5986 rồi sử d ng làm phương tiện đi l i cho đến nay. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã thu hồi xe Wave màu xanh Trung Quốc, biển số 78H8- 5986 và trả cho bị h i Tia Minh Dư.

Vụ 4: Vào ngày 17-02-2018, bị cáo Nguyễn Quốc K cùng với Nguyễn Nhựt H, Luân (Sỹ) lén lút chiếm đo t được 01 chiếc xe Dream, biển số: 93H4-6367 của bà Nguyễn Thị X t i nhà trọ địa chỉ số 22A/7 khu phố N1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Sau đó tên Nguyễn Nhựt H giao cho bị cáo Nguyễn Quốc K sử d ng, bị cáo Nguyễn Quốc K giao l i cho tên Bé (chưa rõ nhân thân, lai lịch) sử d ng đến nay. Hiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương chưa thu hồi được xe Dream, biển số 93H4-6367.

Vụ 5: Vào ngày 10-02-2018, bị cáo Nguyễn Quốc K và Nguyễn Nhựt H lén lút chiếm đo t được 01 điện tho i Samsung J7 Prime, 01 Ipad Apple Mac 3 của ông Phan Công P t i phòng trọ số 55A, địa chỉ số 18C/22 khu phố Thống Nhất 1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Sau đó tên Nguyễn Nhựt H, bị cáo Nguyễn Quốc K mang đến bán t i tiệm điện tho i Hoàng Phát thuộc khu phố R 1, phường H, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương bán được được 4.900.000 đồng, sau đó các bị cáo chia nhau tiêu xài hết số tiền. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương chưa thu hồi được 01 điện tho i Samsung J7 Prime, 01 Ipad Apple Mac 3.

Vụ 6: Vào ngày 10-02-2018, bị cáo Nguyễn Quốc K, Nguyễn Nhựt H và Luân, lén lút chiếm đo t được 01 con heo đất bên trong có 1.000.000 đồng và 01 cái bếp gas Kanasa (đã thu hồi được) của ông Đào Hữu L t i phòng trọ số 3, địa chỉ số 36/21, khu phố Thống Nhất 1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Số tiền các bị cáo chia nhau tiêu xài, còn bếp gas bị cáo Luân mua l i với giá 300.000 đồng để sử d ng.

Vụ 7: Vào ngày 09-01-2018, bị cáo Nguyễn Quốc K, Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Quang L lén lút chiếm đo t được 1.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn Tt i phòng trọ số 16 lầu 01 của dãy nhà trọ địa chỉ số 17 đường số 1, khu phố Thống Nhất 1, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Sau đó các các bị cáo chia nhau tiền tiêu xài.

Đối với Nguyễn Văn T ngoài hành vi cùng với Nguyễn Nhựt H, Nguyễn Quang L, Nguyễn Quốc K lén lút chiếm đo t tài sản xe mô tô biển số 51X3 – 8043 của ông Nguyễn Văn H trị giá 950.000đồng, ngày 23-01-2018, Nguyễn Văn T còn cùng với Nguyễn Nhựt H lén lút chiếm đo t 900.000 đồng của bà Trần Thị Thu T t i phòng trọ địa chỉ số 20 khu phố Thắng Lợi 2, phường D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương. Tổng giá trị chiếm đo t là 1.850.000 đồng.

Căn cứ kết luận định giá số 122/BB.ĐG ngày 15-5-2019 của Hội đồng định giá thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương kết luận :

- 01 (một) xe Dream Trung Quốc biển số 51X3-8043 trị giá 950.000 đồng (tên Nguyễn Nhựt H, Nguyễn Quang L cùng bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Quốc K thực hiện)

- 01 (một) xe Dream màu đen, biển số 79F1-8576 trị giá 2.200.000 đồng tên Nguyễn Nhựt H cùng bị cáo Luân, bị cáo Nguyễn Quốc K thực hiện (bị cáo Nguyễn Văn T là người đem tài sản do Nguyễn Nhựt H, Luân, Nguyễn Quốc K chiếm đo t được đi bán).

- 01 (một) đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 2 phân 9 ly trị giá 690.200 đồng (tên Nguyễn Nhựt H cùng bị cáo Luân, bị cáo Nguyễn Quốc K thực hiện).

- 01 (một) xe Wave alpha Trung Quốc, biển số 70L2-1840 trị giá 3.500.000 đồng (tên Nguyễn Nhựt H, bị cáo Nguyễn Quốc K) thực hiện.

- 01 (một) xe Dream biển số 93 H4 – 6367 có trị giá 1.500.000đổng (do bị cáo Nguyễn Quốc K, Nguyễn Nhựt H và Luân thực hiện)

- 01 (một) điện tho i di động Samsung J7 màu đen trị giá 3.500.000 đồng (tên Nguyễn Nhựt H, bị cáo Nguyễn Quốc K thực hiện).

- 01 (một) bếp gas hiệu Kanasa (bếp đôi) trị giá 600.000 đồng (tên Nguyễn Nhựt H cùng bị cáo Luân, bị cáo Nguyễn Quốc K, tên Bình An thực hiện).

- 01 (một) Ipad Apple Mac 3 trị giá 6.500.000 đồng (tên Nguyễn Nhựt H, bị cáo Nguyễn Quốc K thực hiện)

- Tiền mặt Nguyễn Quốc K và đồng ph m chiếm đo t với tổng số tiền là 2.000.000đồng.

Tổng giá trị tài sản và tiền Nguyễn Quốc K và đồng ph m chiếm đo t là 21.440.000đồng.

Những vật chứng nêu trên đã được xử lý t i Bản án hình sự sơ thẩm số: 199/2018/HSST ngày 03-8-2018 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.

Ngày 07-11-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương, kh i tố bị can và ra quyết định truy nã đối Nguyễn Quốc K về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 27-12-2019, Nguyễn Quốc K bị bắt theo quyết định truy nã và bị t m giam đến ngày 22-01-2020 được trả tự do cho gia đình bảo lĩnh để điều tra cho đến nay.

Ngày 07-11-2019, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương, kh i tố bị can và ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn T về tội Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có. Ngày 02-01-2020, Nguyễn Văn T bị bắt theo quyết định truy nã và bị t m giam để điều tra cho đến nay. Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn T có tổng giá trị 1.850.000 đồng của ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Thu T, chưa đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã ra quyết định xử ph t hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với Ph m Nhựt H và Nguyễn Văn Lvào ngày 3-8-2018, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương đã đưa v án ra xét xử và tuyên ph t Ph m Nhựt H03 năm tù và Nguyễn Văn L14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 199/2018/HS-ST. Đối với Huỳnh Hữu Luân ngày 11-02-2020, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương xét xử xử ph t mức án 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HS-ST.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 05-5-2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử ph t bị cáo Nguyễn Quốc K 09 (chín) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được khấu trừ thời giam t m giam từ ngày 27-12-2019 đến ngày 22-01-2020.

Ngoài ra, bản án còn tuyên ph t Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”, tuyên về án phí, biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án.

Ngày 13-5- 2020, bị cáo Nguyễn Quốc K kháng cáo xin được hư ng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên t a trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời h n kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc K đúng theo thời h n luật định. T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Quốc K khai nhận hành vi ph m tội như bản án sơ thẩm nhận định. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính chất, mức độ hành vi ph m tội và xử ph t bị cáo mức án 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin hư ng án treo, xét thấy mặc dù bị cáo ph m tội nhiều lần nhưng giá trị tài sản chiếm đo t không lớn, bị cáo ph m tội khi chưa thành niên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và nơi làm việc ổn định nên đủ điều kiện hư ng án treo theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc K. Áp d ng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố t ng hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 05-5-2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương, theo hướng xử ph t bị cáo Nguyễn Quốc K 09 tháng tù nhưng cho hư ng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Người bào chữa cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t hình ph t tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, chưa thể hiện được tinh thần nhân đ o của pháp luật trong chính sách xử lý người chưa thành niên ph m tội. Các cơ quan tiến hành tố t ng cấp sơ thẩm, chưa thực hiện đúng các quy định về xác minh, triệu tập bị can, dẫn đến việc ra quyết truy nã không đúng, ảnh hư ng đến quyền lợi ích hợp pháp của bị cáo chưa thành niên, gia đình bị cáo có ông, bà tham gia cách m ng nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hư ng án treo. Thống nhất quan điểm giải quyết v án của Đ i diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t và cho bị cáo được hư ng án treo, t o điều kiện cho bị cáo tiếp t c lao động học tập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 02 năm 2018, Nguyễn Quốc K cùng Nguyễn Nhựt H, Nguyễn Quang L, Luân thực hiện chiếm đo t tài sản (gồm các xe mô tô, bông tai vàng, điện tho i di động, Ipad, bếp gas hiệu Kanas, tiền) của các bị h i trên địa bàn thành phố D, tỉnh Bình Dương, tổng giá trị tài sản chiếm đo t là 21.440.000đồng. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật..

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Quốc K cùng Nguyễn Nhựt H, Nguyễn Quang L, Luân chiếm đo t tài sản của các bị h i nhiều lần, tổng giá trị tài sản chiếm đo t là 21.440.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng sau khi ph m tội bị cáo đã bỏ trốn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố t ng, tuy nhiên, hồ sơ v án thể hiện: Sau khi tiếp nhận tin báo tố giác của các bị h i, cùng ngày 23-02-2018 t i Công an phường D, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy lời khai của Nguyễn Quốc K có sự tham gia của ông Nguyễn Quốc L (cha ruột của Nguyễn Quốc K), có đầy đủ thông tin về nơi thường trú, t m trú và thông tin điện tho i để liên l c (các BL từ 298 đến 301). Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành thông báo, triệu tập Nguyễn Quốc K, không tiếp cận gia đình Nguyễn Quốc K (theo thông tin ông Nguyễn Quốc L cung cấp) để xác minh làm rõ việc Nguyễn Quốc K có mặt t i nơi cư trú hay không, mà chỉ tiến hành xác minh t i công an xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào các ngày 10-10-2019, ngày 05-11-2019 (các biên bản xác minh này không có người trực tiếp t i quản lý dân cư t i khu ấp tham gia, chỉ có người tiến hành xác minh và đ i diện Công an xã H xác nhận) Nguyễn Quốc K cùng gia đình không có mặt t i ấp H, xã H làm căn cứ xác định Nguyễn Quốc K bỏ trốn khỏi nơi cư trú và ra Quyết định truy nã số 45 ngày 07-11-2019 là chưa đúng theo quy định về Truy nã bị can t i Điều 231 Bộ luật Tố t ng hình sự và Thông tư liện tịch số 13/2012/TTLT- BCA - BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09-10-2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã.

Mặt khác, ông Đỗ Văn Đ(chủ nhà trọ đóng t i số 32 đường 13, khu phố N1, phường D, thành phố D) xác nhận Nguyễn Quốc K cùng cha, mẹ t m trú liên t c t i nhà trọ của ông từ năm 2014 đến tháng 12 năm 2019 (BL353). Do vậy, việc xác định bị cáo Nguyễn Quốc K bỏ trốn là chưa đủ cơ s .

Bị cáo Nguyễn Quốc K tham gia chiếm đo t tài sản của các bị h i nhiều lần, với tính chất mức độ thực hiện tội ph m, Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo 09 tháng tù là phù hợp, tuy nhiên, khi thực hiện tội ph m bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nơi làm việc ổn định nên đủ điều kiện để hư ng án treo theo quy định t i Điều 2, Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Mặt khác, quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp các tài liệu thể hiện bị cáo có ông, bà tham gia cách m ng được tặng thư ng huân, Nguyễn Nhựt H chương nên Hội đồng xét xử xem xét áp d ng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết, t o điều kiện cho bị cáo được tự cải t o, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người ph m tội biết ăn năn hối cải, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người chưa thành niên ph m tội. Kháng cáo của bị cáo có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm giải quyết v án của đ i diện Viện kiểm sát, quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Quốc K không phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc K, sửa Bản án sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 05-5- 2020 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về phần hình ph t như sau:

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91 và Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử ph t bị cáo Nguyễn Quốc K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hư ng án treo. Thời thử thách là 01 năm 06 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án phúc thẩm (07-9-2020).

Giao bị cáo Nguyễn Quốc K về Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương trực tiếp giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Quốc K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định t i Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.

2. Án phí phúc thẩm: Áp d ng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Quốc Kkhông phải nộp.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ