vanban.org

Bản án 139/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Văn Bích L được ly hôn với anh Lưu Tương L.

Về nuôi con chung: Chị Văn Bích L được quyền nuôi con tên Lưu Hoàng L, sinh ngày 12/10/2012 đang ở cùng chị. Anh Lưu Tương L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi mỗi người con đủ 18 tuổi.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liễu - Lai"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Văn Bích L được ly hôn với anh Lưu Tương L.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 139/2020/HNGĐ-ST
Ngày 05-6-2020
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thắng.

Ông Huỳnh Văn Năm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Việt Xô là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 776/2019/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2020 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 87/2020/QĐ-ST ngày 05 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Văn Bích L, sinh năm 1988; cư trú tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Lưu Tương L, sinh năm 1987; cư trú tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Văn Bích L và quá trình tố tụng tại Tòa án chị L trình bày: Chị và anh Lưu Tương L tự nguyện kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh L có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không tôn trọng và xúc phạm đến chị cùng gia đình của chị, đồng thời không quan tâm đến cuộc sống gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất hòa cự cãi nhau không giải quyết được nên tự sống riêng từ tháng 02/2019. Xét thấy, cuộc sống không đảm bảo hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung của chị và anh L gồm có một người tên Lưu Hoàng L, sinh ngày 12/10/2012 đang ở cùng chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con, yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lưu Tương L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

Ý kiến của Lưu Hoàng L là con chung của chị L và anh L có nguyện vọng ở cùng chị L.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Vụ án được Tòa án thụ lý là đúng thẩm quyền, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp cho chị L được ly hôn với anh L, giao con cho chị L nuôi, buộc anh L cấp dưỡng nuôi con theo quy định, về tài sản không xem xét giải quyết, buộc chị L và anh L chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Văn Bích L được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Anh Lưu Tương L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh L được xác lập vào năm 2009, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng, thường không tin tưởng nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Hiện tại, mỗi người sống một nơi không ai lo lắng, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau trong những lúc khó khăn, thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Mặt khác, bản thân anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt điều đó cho thấy anh L không có thiện chí để hàn gắn. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh L theo ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Thời gian chung sống, chị L và anh L có một người con chung hiện đang ở cùng chị L và vẫn được đi học, phát triển bình thường trong khi đó anh L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì về phần con chung của anh chị khi ly hôn. Mặt khác, con chung của anh chị có nguyện vọng ở cùng chị L và để không làm xáo trộn môi trường sống, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát giao con cho chị L nuôi theo nguyện vọng của con là phù hợp.

Về phần cấp dưỡng nuôi con chị L yêu cầu, Hội đồng xét xử thấy rằng Lưu Hoàng L, sinh ngày 12/10/2012 là con chung của chị L và anh L hiện chưa thành niên nên chị L và anh L phải cùng có trách nhiệm. Anh L không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào điều kiện kinh tế của mỗi bên và nhu cầu thiết yếu của việc nuôi con nên buộc anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con đủ 18 tuổi, anh L phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Về án phí: Chị Văn Bích L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, anh Lưu Tương L có nghĩa vụ cấp dưỡng nên chị L và anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; phần tạm ứng án phí chị L đã nộp được khấu trừ.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Văn Bích L được ly hôn với anh Lưu Tương L.

Về nuôi con chung: Chị Văn Bích L được quyền nuôi con tên Lưu Hoàng L, sinh ngày 12/10/2012 đang ở cùng chị.

Anh Lưu Tương L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi mỗi người con đủ 18 tuổi.

Kể từ chị Văn Bích L có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Lưu Tương L chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng anh Lưu Tương L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị L.

Vì lợi ích của con chưa thành niên nên anh L có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và chị L có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (ly hôn) chị Văn Bích L phải chịu 300.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (cấp dưỡng) anh Lưu Tương L phải chịu 300.000 đồng, chị L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002954 ngày 09/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ