vanban.org

Bản án 139/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 23/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Tiến S phạm tội ―Trộm cắp tài sản‖

Xử phạt: Bị cáo Trần Tiến S 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày: 07/2/2018. Về dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tiến S phạm tội ―Trộm cắp tài sản‖
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
——————————
Bản án số: 139/2018/HSST
Ngày: 23 – 5 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Đình Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hương – Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên – TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 137/2018/TLST-HS ngà y 19/4/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2018/ QĐXXST-HS ngày 19/4/2018 đối với bị cáo:

TRẦN TIẾN S – Sinh năm: 1983; HKTT : Số N - P. Đ – Quận Long Biên – Hà Nội; Chỗ ở: N – A – P. G – Long Biên – Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không: nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Văn hóa: 8/12; con ông: Trần Tiến H(Chết); con bà: Nguyễn Thị Kim D; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 175 lập ngày 08/02/2018 của Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo có 01 tiền án, 05 tiền sự.

- Tiền sự:

+ 14/6/2001 Trộm cắp tài sản công an thị trấn Đức Giang xử phạt hành chính.

+ 08/8/2001 Trộm cắp tài sản công an thị trấn Đức Giang xử phạt hành chính.

+ 28/8/2001 Sử dụng trái phép chất ma túy công an thị trấn Đức Giang xử phạt hành chính.

+ 29/10/2001 Sử dụng trái phép chất ma túy công an huyện Gia Lâm xử phạt hành chính.

+ 14/4/2004 Cai nghiện bắt buộc 24 tháng đến 14/6/2006 về địa phương.

- Tiền án: Bản án số 22/ HSST ngày 30/01/2002 Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ( giá trị tài sản 700.000 đồng).

Bị cáo bị bắt ngày 07/02/2018 (Có mặt)

Người bị hại:

- Anh Trần Tiến H – Sinh năm: 1994

Chỗ ở: N Atổ N P. , quận Long Biên – Ha Nội( Có mặt)

Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Quang K - SN: 1983

HKTT: Số B phố L,Tổ Q, phường N, quận Long Biên, Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/12/2017 Công an P. Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội tiếp nhận đơn trình báo của anh Trần Tiến H về việc: Khoảng 7h sáng ngày 01/12/2017 anh H phát hiện bị mất trộm 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Inspiron N5447 anh để trong tủ quần áo tại phòng ngủ tầng 3 Anh H nghi ngờ anh trai là Trần Tiến S đã thực hiện hành vi trộm cắp trên.

Quá trình điều tra đã làm rõ:

Anh Trần Tiến H đang sống cùng mẹ và anh trai là Trần Tiến S tại N0-06 A29 tổ 18 P. Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Khoảng 05h sáng ngày 01/12/2017 anh H đang ngủ ở phòng khách tầng 1 thì thấy S đi ra khỏi nhà. Đến 7h sáng cùng ngày, anh H ngủ dậy và đi lên tầng 3 để lấy chiếc máy tính xách tay thì phát hiện đã bị mất. Khoảng 15h30’ cùng ngày, thấy S về anh H đã hỏi về chiếc máy tính thì S nhận đã lấy trộm và sau đó mang đến cầm cố ở cửa hàng máy tính số 612 Ngọc Lâm. Đến ngày 04/12/2017 vẫn không thấy S mang máy về trả, nên anh H đã làm đơn trình báo Cơ quan công an như nội dung nêu trên.

Cơ quan điều tra- Công an quận Long Biên đã cùng anh Trần Tiến H đến cửa hàng sửa máy tính số 612 Ngọc Lâm để làm việc với anh Trần Quang K - SN: 1983, HKTT: Số 18 phố Long Biên I, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên là chủ cửa hàng. Anh K khai: Sáng sớm ngày 01/12/2017 Trần Tiến S mang máy tính đến cửa hàng của anh nhờ kiểm tra xem máy có bị hỏng không, sau đó S hỏi vay tiền của anh K và để lại máy tính, hẹn khi nào lấy máy sẽ trả tiền cho anh. Anh K đồng ý và cho S vay 1.200.000đ, hiện S chưa quay trở lại trả tiền anh như thỏa thuận. Khi biết chiếc máy tính trên là tang vật của vụ án, anh K đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho anh Trần Quang K nhận dạng Trần Tiến S , kết quả anh K xác định Trần Tiến S là người đã đến cửa hàng để lại máy tính và vay tiền của anh ngày 01/12/2017.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 42 ngày 27/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Inspiron N5447 màu bạc đã qua sử dụng trị giá 7.000.000đ.

Anh Trần Tiến H khẳng định chiếc máy tính trên là tài sản của anh mua từ năm 2015 giá 13.900.000đ. Do thời gian đã lâu nên hóa đơn chứng từ hiện anh H không còn lưu giữ.

Tại cơ quan điều tra, Trần Tiến S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Số tiền 1.200.000đ đã vay của anh K , S khai đã chi tiêu các nhân hết.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bản cáo trạng số: 133/KSĐT ngày 13/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Trần Tiến S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Tiến S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015; điểm s Khoản Điều 51; Điều 38, Điều 48 của BLHS 2015 xử phạt bị cáo S mức án từ 12 đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Buộc bị cáo S phải bồi thường cho anh K số tiền 1.200.000 đồng.

Nói lời sau cùng, Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, Mong HĐXX cho bị cáo được giảm hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Trần Tiến S tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 5h00’ ngày 01/12/2017 tại phòng ngủ của anh Trần Tiến H ở tầng 3 nhà N0-06 A29 tổ 18 P. Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội, bị cáo Trần Tiến S đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Trần Tiến H 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Inspiron N5447 mầu bạc đã qua sử dụng trị giá 7.000.000 đồng, sau đó mang đi cầm cố lấy tiền ăn tiêu hết.

Hành vi của bị cáo Trần Tiến S đã cấu thành tội: Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 so sánh với bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 thì có khung hình phạt ngang bằng nhau không làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: ―Trộm cắp tài sản‖ theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.

Nhân thân bị cáo có 05 Tiền sự: Từ năm 2001 đến năm 2005 có 05 tiền sự về các hành vi Trộm cắp tài sản, sử dụng trái phép chất ma túy và Cai nghiện bắt buộc và 01 Tiền án: Bản án số 22/ HSST ngày 30/01/2002 Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo luật định các tiền sự và tiền án trên của bị cáo đã được xóa nhưng bị cáo vẫn được coi là có nhân thân xấu. Xét về hành vi, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm bị cáo gây ra và nhân thân bị cáo. Thấy cần phải áp dụng một hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không tài sản và thu nhập nên không áp dụng.

Đại diện VKS đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về dân sự:

-

Người bị hại anh Trần Tiến H đã nhận 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Inspiron N5447 màu bạc đã qua sử dụng do cơ quan điều tra Công an quận Long Biên trả ngày 30/3/2018, ngoài ra anh H không còn yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Anh Trần Quang K khi cầm chiếc máy tính xách tay và cho Trần Tiến S vay 1.200.000 đồng, anh K không biết đó là tài sản do S trộm cắp mà có. Do vậy, cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ, ngoài ra anh K còn yêu cầu bị cáo S phải bồi thường trả anh số tiền 1.200.000 đồng. Xét yêu cầu của anh K là có căn cứ nên buộc bị cáo S phải bồi thường toàn bộ số tiền 1.200.000 đồng cho anh Trần Quang K .

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về dân sự phù hợp với nhận định của HĐXX.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Bị cáo và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Tiến S phạm tội ―Trộm cắp tài sản‖

Áp dụng khoản 1 điều 173 BLHS 2015, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Tiến S 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày: 07/2/2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự

2. Về dân sự:

- Buộc bị cáo S phải bồi thường cho anh Trần Quang K số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng)

3. Án phí : Áp dụng Điều 136 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.

Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí DSST.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo:Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ