- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐOÀN KHẮC Đ VÀ NGUYỄN HOÀI N - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đoàn Khắc Đ và Nguyễn Hoài N phạm tội “cƣớp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 139/2018/HS-ST Ngày 12-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Thúy Lan;
2. Bà Trần Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Vân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 140/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Đoàn Khắc Đ, sinh năm 1994 tại tỉnh H; thƣờng trú: Thôn B, xã H, huyện K, tỉnh H; nghề nghiệp: Thợ thạch cao; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Khắc Th, sinh năm 1964 và bà Trần Thị T, sinh năm 1970 (đã chết); bị cáo chƣa có vợ con; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2018 đến nay. Bị cáo có mặt.
2/ Nguyễn Hoài N, sinh năm 1996 tỉnh H; thƣờng trú: Xóm 7, xã B, huyện K, tỉnh H. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ ho ̣c vấn : 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Ƣ, sinh năm 1970 và bà Lê Thị H, sinh năm 1970; vợ tên: Phạm Thị Q, sinh năm 1991, bị cáo có 01 con sinh ngày 04/5/2018. Bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2018 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Võ Thị N, sinh năm 1996, địa chỉ: Hẻm 116, đƣờng 17, phƣờng T, quận Đ, thành phố H. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Hoàng Ngọc L, sinh năm 1977, địa chỉ: Số 49/7A khu phố Đ 4, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B.Vắng mặt.
2. Lê Thị H, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn 7, xã B, huyện K, tỉnh H. Có mặt.
3.Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn 7, xã B, huyện K, tỉnh H. Vắng mặt.
4. Nguyễn Thị Trà G, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn 7, xã B, huyện K, tỉnh H. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Lê Tuấn K, sinh năm 1986, địa chỉ: Số 1/12 khu phố L 2, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.
2. Nguyễn Quốc H, sinh năm 1996, địa chỉ: Số 33/26A khu phố Đ 4, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Đoàn Khắc Đ và Nguyễn Hoài N là bạn bè cùng quê và cùng thuê dãy nhà trọ số 520/20 khu phố Đ 4, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/01/2018, Đ rủ N đi tìm tài sản xe gắn máy của ngƣời dân để sơ hở để chiếm đoạt bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Lúc này Đ lấy 01 cây đoản dùng để bẻ khóa xe bỏ vào túi quần. N điều khiển xe máy biển số 47M1- 128.94 chở Đ từ phòng trọ của Đ đi vào khu Trung tâm hành chính thị xã D, tỉnh B tìm tài sản chiếm đoạt. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi N điều khiển xe chở Đ đến trƣớc nhà số 19, đƣờng 19, khu phố N2, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B thì phát hiện chị Võ Thị N đang ngồi trên xe bên đƣờng ngƣợc chiều đi của N và Đ, trên tay của chị N đang cầm bấm điện thoại di động, thấy vậy Đ kêu N điều khiển xe vƣợt lên phía trƣớc quan sát xem có ngƣời hay không để quay lại giật điện thoại của chị N. N điều khiển xe vƣợt lên phía trƣớc thì không nhìn thấy ai nên vòng xe lại điều khiển xe áp sát phía bên trái của chị N còn Đ ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại của chị N. Giật đƣợc điện thoại thì N tăng ga bỏ chạy, bị giật điện thoại chị N nổ máy đuổi theo đồng thời tri hô “cƣớp, cƣớp”, khi chị N đuổi đến đoạn đƣờng Nguyễn Tri P thì cho xe đụng vào xe của N và Đ, chị N bị té nhƣng N và Đ vẫn tiếp tục bỏ chạy. Lúc này lực lƣợng tuần tra nghe tiếng tri hô nên đuổi theo N và Đ đến trƣớc cổng Bệnh viện Q4 thì bắt đƣợc Đ và N cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe máy hiệu Nouvo biển số 47M1 – 128.94; 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 4 màu xám (điện thoại do Đ và N chiếm đoạt của chị N); 01 cây đoản bằng kim loại.
Theo kết luận định giá số 08/BB.ĐG ngày 12/01/2018 của Hội đồng định giá thị xã D, tỉnh B xác định tài sản chiếm đoạt là điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 4 màu xám của chị Võ Thị N tại thời điểm chiếm đoạt trị giá là 2.200.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại. Bị hại không còn yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe máy hiệu Nouvo biển số 47M1- 128.94, Nguyễn Hoài N mƣợn của chị Lê Thị H, chị H không biết N sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản bằng kim loại.
Tại cáo trạng số: 129/CT - VKS ngày 04 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố các bị cáo Đoàn Khắc Đ và Nguyễn Hoài N về tội cƣớp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Đoàn Khắc Đ với mức hình phạt từ 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Khắc Đ và Nguyễn Hoài N xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 20 giờ ngày 04/01/2018, N điều khiển xe chở Đ đến trƣớc nhà số 19, đƣờng 19, khu phố Đ2, phƣờng D, tỉnh B thì phát hiện chị Võ Thị N đang ngồi trên xe bên đƣờng ngƣợc chiều đi của N và Đ, trên tay của chị N đang cầm bấm điện thoại di động, thấy vậy Đ kêu N điều khiển xe vƣợt lên phía trƣớc quan sát xem có ngƣời hay không để quay lại giật điện thoại của chị N. N điều khiển xe vƣợt lên phía trƣớc thì không nhìn thấy ai nên vòng xe lại điều khiển xe áp sát phía bên trái của chị N còn Đ ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại của chị N. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lờ i khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Nhƣ vậy, hành vi của Đoàn Khắc Đ và Nguyễn Hoài N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cƣớp giật tài sản”, các bị cáo sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ thuộc trƣờng hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 129/CT - VKS ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm pha ̣m đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội vớ i lỗi cố ý trƣ̣c tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thƣ̣c hiê ̣n , cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Xét đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức. Trong vụ án, bị cáo Đ là ngƣời khởi xƣớng và là ngƣời trực tiếp giật điện thoại. Bị cáo N tham gia với vai trò là ngƣời giúp sức.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của minh. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy đi ̣nh ta ̣i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bô ̣
̀ luâ ̣t Hinh sƣ̣.
̀
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, có nghề nghiệp ổn định.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho chị Võ Thị N. Chị N không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe máy hiệu Nouvo biển số 47M1- 128.94, Nguyễn Hoài N mƣợn của chị Lê Thị H, chị H không biết N sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H là phù hợp. Đối với 01 cây đoản bằng kim loại không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Đoàn Khắc Đ và Nguyễn Hoài N phạm tội “cƣớp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Đoàn Khắc Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội cƣớp giật tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2018.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 03 (ba) năm tù về tội cƣớp giật tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2018.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản bằng kim loại (dùng để phá khóa xe).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D với Chi cục thi hành án Dân sự thị xã D).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Đoàn Khắc Đ và Nguyễn Hoài N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã D (1); - Công an thị xã D (1); - Chi cục THADS thị xã D (1); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1); - Sở Tƣ pháp tỉnh B (1); - Bị cáo (2); - Ngƣời tham gia tố tụng (7); - UBND xã B, huyện K, tỉnh H (2); - Phòng PV 27 CA tỉnh B (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh B (01); - Lƣu: VT, HSVA (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Thị Ngọc Liên |