vanban.org

Bản án 1385/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị T với ông Thái Hà Quang T.

Bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Thái Hà Quang T. Giấy chứng nhận kết hôn số 268, quyển số 02/2013 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 17/07/2013 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thủy- Thuận"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị T với ông Thái Hà Quang T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1385/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/ 2019
V/v Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân Hương Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyên

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Dũng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 759/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp về ly hôn ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 437/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019 và quyết định hoãn phiên Tòa số: 369/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm: 1985

Địa chỉ: xã K, huyện C, huyện Bình Chánh, TP.HCM.

2. Bị đơn: Ông Thái Hà Quang T, sinh năm: 1983

Địa chỉ: xã K, huyện C, TP.HCM.

(Bà T có đơn xin vắng mặt tại Tòa, ông T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/7/2019/2019 và bản tự khai của bà Hồ Thị T trình bày:

Bà và ông Thái Hà Quang T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2013, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu ông bà chung sống bình thường, không có gì xảy ra. Đến khoảng năm 2018 02 vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chồng bà không có trách nhiệm, không phụ bà nuôi con (cả vật chất lẫn tinh thần), suốt ngày không có ở nhà, bỏ bà một mình chăm sóc con nhỏ trong khi bà đang mang thai, bà còn phải đi làm nuôi con khiến cho tình cảm lạnh nhạt, không còn chung suy nghĩ, tiếng nói chung không có. Ông bà đã ly thân từ tháng 02/2018 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thái Hà Quang T.

Về con chung: Bà T và ông T có 02 con chung tên Thái Ngọc Tường V, sinh ngày: 25/09/2014 và Thái Nhật M, sinh ngày: 29/10/2018. Hiện trẻ V và trẻ M đang sống cùng với bà T. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 trẻ và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Thái Hà Quang T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị T đối với ông Thái Hà Quang T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Hồ Thị T nộp đơn xin ly hôn đối với ông Thái Hà Quang T. Ông Thái Hà Quang T hiện đang cư trú tại xã K, huyện C. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Thái Hà Quang T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Thái Hà Quang T theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Hồ Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo qui định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông Thái Hà Quang T đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa bà Hồ Thị T và ông Thái Hà Quang T nhưng ông T không đến Tòa án để giải quyết. Vì vậy, ông Thái Hà Quang T tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông Thái Hà Quang T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ vợ chồng: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 268, quyển số 02/2013 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/07/2013 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Thị T và ông Thái Hà Quang T là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông T không thể hàn gắn được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà thì giữa bà và ông T bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, do chồng bà không có trách nhiệm, không phụ bà nuôi con (cả vật chất lẫn tinh thần), suốt ngày không có ở nhà, bỏ bà một mình chăm sóc con nhỏ trong khi bà đang mang thai, bà còn phải đi làm nuôi con khiến cho tình cảm lạnh nhạt, không còn chung suy nghĩ, tiếng nói chung không có. Hiện hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2018 đến nay, như vậy vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa ông T cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏa giữa hai người đã không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị T đối với ông Thái Hà Quang T.

Về con chung: Bà Hồ Thị T và ông Thái Hà Quang T có 02 con chung tên Thái Ngọc Tường V, sinh ngày: 25/09/2014 và Thái Nhật M, sinh ngày: 29/10/2018. Sau khi ly hôn bà Hồ Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi cà 02 trẻ V và trẻ M và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện cả 02 trẻ V và trẻ M đang sống chung với bà T, bà T là người chăm sóc tốt cho trẻ V và trẻ M. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cả 02 trẻ Thái Ngọc Tường V, sinh ngày: 25/09/2014 và Thái Nhật M, sinh ngày: 29/10/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T cho đến khi bà T có yêu cầu.

Ông Thái Hà Quang T có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Hồ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 203, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84,116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị T với ông Thái Hà Quang T.

Bà Hồ Thị T được ly hôn với ông Thái Hà Quang T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 268, quyển số 02/2013 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 17/07/2013 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Bà Hồ Thị T và ông Thái Hà Quang T có 02 con chung tên Thái Ngọc Tường V, sinh ngày: 25/09/2014 và Thái Nhật M, sinh ngày: 29/10/2018. Hiện cả 02 trẻ V và trẻ M đang sống chung với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử giao cả 02 trẻ Thái Ngọc Tường V, sinh ngày: 25/09/2014 và Thái Nhật M, sinh ngày: 29/10/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T cho đến khi bà T có yêu cầu.

Ông Thái Hà Quang T có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị T xác nhận giữa bà và ông Thái Hà Quang T không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Hồ Thị T chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2019/0002507 ngày 17/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà T đã nộp án phí đầy đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ