vanban.org

Bản án 1382/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với ông Trần Dư T. Giấy chứng nhận kết hôn số số 97, quyển số 01/2014 ngày 22/5/2014 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Trần Dư T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà P và ông T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1382/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07-9-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI TH NH H H CH MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Thanh Thà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Bé;

2. Bà Trần Thị Lợi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Ch Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 756/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 376/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1991 (có mặt);

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 81/1 Đường 93, Tổ 13, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh.

2. Bị đơn: Ông Trần Dư T, sinh năm 1994 (vắng mặt);

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 286 Quốc lộ 22, Tổ 6, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 19/11/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P trình bày:

Bà và ông Trần Dư T tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2014, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/2014 ngày 22/5/2014. Thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc nhưng về sau thì bà và ông T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hiểu nhau, có nhiều khác biệt về cách sống, thường xuyên cãi nhau. Hiện tại, bà và ông T không còn sống chung với nhau. Sau những mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn, bà và ông T không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Dư T.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trần Hạo T, sinh ngày 25/10/2014. Hiện nay, trẻ T đang sống chung với bà nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hồng P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Hồng P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp của mình gồm: Bản ch nh giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh (bản sao), chứng minh nhân dân, hộ khẩu của bà P và ông T (bản sao).

Ông Trần Dư T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Trần Dư T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện Củ Chi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Bị đơn ông Trần Dư T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Trần Dư T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/2014 ngày 22/5/2014 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng P xin ly hôn với ông Trần Dư T là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà P thì mâu thuẫn giữa bà và ông T là trầm trọng và không thể hàn gắn. Nguyên nhân do vợ chồng không hiểu nhau, có nhiều khác biệt về cách sống, thường xuyên cãi nhau làm cho gia đình không hạnh phúc. Hiện tại, bà và ông T không còn sống chung với nhau. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông T không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án chứng tỏ ông T không có thiện ch để đoàn tụ gia đình.

Ông Trần Dư T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ án. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T căn cứ theo các tài liệu chứng cứ mà ph a nguyên đơn cung cấp và chứng cứ mà Tòa thu thập được theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đ ch của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trần Hạo T, sinh ngày 25/10/2014. Hiện nay, trẻ T đang sống chung với bà P và tại bản tự khai ngày 17/6/2022 trẻ T có nguyện vọng được sống chung với bà P nên Hội đồng xét xử quyết định giao cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi, do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Ông T được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, m hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Bà P xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nghĩa vụ dân sự chung: Bà P xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Do ông Trần Dư T vắng mặt tại phiên tòa nên ông T có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ Luật ph và lệ ph số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần buộc bà Nguyễn Thị Hồng P phải nộp án ph dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật ph và lệ ph số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với ông Trần Dư T.

Giấy chứng nhận kết hôn số số 97, quyển số 01/2014 ngày 22/5/2014 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng P và ông Trần Dư T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Hạo T, sinh ngày 25/10/2014 cho bà Nguyễn Thị Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi, do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, m hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có.

4. Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có.

Nếu ông Trần Dư T có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết trong vụ án khác.

5. Án ph dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Thị Hồng P phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án ph đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0043391 ngày 01/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được t nh từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nh n:

Cỡ chữ