- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T- V ly h ôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T với bị đơn ông Phạm Công V về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2026/HNGĐ-ST Ngày: 04/5/2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Hậu
Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 638/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà số 178/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố Đ.
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx
- Bị đơn: Ông Phạm Công V, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố Đ.
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx
(Bà T vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, ông V vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian quen biết và tìm hiểu, giữa bà và ông Phạm Công V phát sinh tình cảm và tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào ngày 26/10/2012, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp nhau về quan điểm sống và tính cách dẫn đến thường xuyên bất hòa, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên căng thẳng. Nhiều lần ông bà tìm cách để hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện nay, bà và ông V đã ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, đoàn tụ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Công V.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/01/2013 và cháu Phạm Công Minh H1, sinh ngày 24/03/2015. Ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Phạm Ngọc H và cháu Phạm Công Minh H1. Tạm thời, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Công V: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Công V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác nhưng ông V không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có đơn đề nghị vắng mặt nên nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Phạm Công V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T. Về án phí: đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Lê Thị T xin ly hôn ông Phạm Công V, ông V là bị đơn có nơi cư trú tại phường P, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đ). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai.
Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Văn tự N chung sống với nhau, được Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ý kết hôn số 315, quyển số 01/2012 cấp vào ngày 26/10/2012, quyển số 01/2007 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000.
2.2. Về yêu cầu xin ly hôn của bà T: Bà T khai, trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp nhau về quan điểm sống và tính cách dẫn đến thường xuyên bất hòa, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên căng thẳng. Nhiều lần ông bà tìm cách để hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, đoàn tụ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Công V.
Bị đơn ông Phạm Công V đã được Tòa án xác minh là có địa chỉ cư trú tại Tổ A, khu phố H, phường P, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đ). Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho ông V nhưng ông V không đến Tòa án để làm việc, cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đ) thể hiện: chính quyền địa phương không biết giữa bà T, ông V có xảy ra mâu thuẫn hay không vì các đương sự không báo với chính quyền địa phương và không có đơn đề nghị địa phương giải quyết.
Như vậy, ông V đã được biết nội dung yêu cầu xin ly hôn của bà T nhưng không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho thấy ông V có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng bà T, ông V là có thật và hiện đã rất trầm trọng. Vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, nếu tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện tại cũng không đem đến hạnh phúc cho nhau. Vì vậy, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn với ông V để cả hai sớm ổn định cuộc sống.
2.3. Về con chung: Nguyên đơn khai, vợ chồng có 02 con chung là Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/01/2013 và Phạm Công Minh H1, sinh ngày 24/03/2015. Ly hôn, bà T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung. Tạm thời, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quá trình giải quyết vụ án, ông V đã nhận được thông báo của Tòa án, biết được yêu cầu về việc nuôi con của bà T nhưng không có ý kiến tranh chấp thể hiện ông V bỏ mặc Tòa án giải quyết theo yêu cầu của nguyên đơn. Tại bản tự khai, hai con chung là cháu H và cháu H1 đều có nguyện vọng được ở với mẹ sau ly hôn. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Phạm Ngọc H và cháu Phạm Công M H1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng: Tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.4. Về tài sản chung: Nguyên đơn khai các đương sự tự thỏa thuận, bị đơn không có đơn phản tố yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không xem xét.
2.5. Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có, bị đơn không có đơn phản tố yêu cầu giải quyết về nợ chung nên không xem xét.
2.6. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T với bị đơn ông Phạm Công V về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T, sinh năm 1988 được ly hôn ông Phạm Công V, sinh năm 1982.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc H, sinh ngày 09/01/2013 và cháu Phạm Công Minh H1, sinh ngày 24/03/2015 cho bà Lê Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời, ông Phạm Công V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, bà Lê Thị T, ông Phạm Công V có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông V (không trực tiếp nuôi con) được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0004506 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự thành phố Đ). Bà T đã nộp xong án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND KV1- Đồng Nai; - TAND TP. Đồng Nai; - Thi hành án dân sự TP.Đồng Nai ; - Nơi đăng ký kết hôn ; - Lưu: HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |