vanban.org

Bản án 138/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Huỳnh H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Huỳnh H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Đặng Thiên K, sinh ngày 07/10/2019 và Nguyễn Đặng Thiên M, sinh ngày 10/10/2022 cho chị Đặng Thị Huỳnh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Đặng Thị Huỳnh H và Nguyễn Xuân T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Huỳnh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/12/2025
V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Út

2. Bà Trần Thị Tuyết Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Thế Hiển – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh long,

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Vĩnh Long: không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 300/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Huỳnh H, sinh ngày 16/11/1995 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực 4, phường Vị T thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh ngày 27/11/1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 9/8 Lê Thị Hồng G, phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cũng như biên bản không tiến hành hoà giải nguyên đơn chị Đặng Thị Huỳnh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2017, chị Đặng Thị Huỳnh H có quen biết với anh Nguyễn Xuân T. Đến năm 2019 cả hai tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới. Chị H và anh T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 2, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long nay là Uỷ ban nhân dân phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 20/8/2019.

Sau khi kết hôn thì chị H và anh T sinh sống cùng nhau bên nhà anh T, thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến tháng 8 năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải nhau dẫn đến vợ chồng rạn nứt và không còn tiếng nói chung trong mối quan hệ vợ chồng. Hiện nay, chị H đã bỏ đi về nhà mẹ ruột và ly thân anh T từ đầu năm 2025 cho đến nay. Chị H nhận thấy không còn tình cảm yêu thương với anh T nên chị Đặng Thị Huỳnh H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Đặng Thiên K, sinh ngày 07/10/2019 và Nguyễn Đặng Thiên M, sinh ngày 10/10/2022. Hiện nay cả 02 con chung đều sống cùng chị H, sau khi ly hôn chị H yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Huỳnh H không yêu cầu anh Nguyễn Xuân T thực hiện cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Huỳnh H không yêu cầu giải quyết.

Ngày 10/11/2025, chị Đặng Thị Huỳnh H có đơn xin giải quyết vắng mặt với lý do đi làm xa và không thể sắp xếp thời gian tham dự phiên toà. Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu như đơn khởi kiện. Vì vậy chị H xin Tòa xét xử vắng mặt chị.

Tòa án đã gởi thông báo thụ lý vụ án, thông báo kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải triệu tập anh Nguyễn Xuân T đến Tòa án mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, người thân trong gia đình đã nhận thông báo triệu tập của Toà án. Tuy nhiên đến ngày làm việc, anh T không đến và không gửi bản khai ý kiến gì về việc chị H yêu cầu ly hôn và nuôi con với anh. Ngày 10/11/2025 chị Đặng Thị Huỳnh H có đơn xin giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 220, 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Đặng Thị Huỳnh H vắng mặt, vì có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Xuân T vắng mặt lần 2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ngày 10/11/2025, chị Đặng Thị Huỳnh H có đơn xin vắng mặt, anh Nguyễn Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần đến Toà án tham dự phiên toà xét xử, văn bản tố tụng của toà án gửi cho anh T có người thân nhận thay, đến ngày xét xử anh T vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết vắng mặt đối với chị Đặng Thị Huỳnh H và anh Nguyễn Xuân T.

Chị Đặng Thị Huỳnh Hoa yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Xuân T đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015. Anh Nguyễn Xuân T thường trú tại số 9/8 Lê Thị Hồng Gấm, phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh long, được quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Huỳnh H và anh Nguyễn Xuân T có quen biết và kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố Vĩnh Long (nay là phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47 vào ngày 20/8/2019, nên đây là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Xét về mâu thuẫn chị H có khai vợ chồng chung sống bất đồng ý kiến, thường cự cải nhau, không có tiếng nói chung. Tuy nhiên đến tháng 8 năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải nhau dẫn đến vợ chồng rạn nứt và không còn tiếng nói chung trong mối quan hệ vợ chồng. Hiện nay, chị H đã bỏ đi về nhà mẹ ruột và ly thân anh T từ đần năm 2025 cho đến nay. Tại phiên toà hôm nay, chị H có đơn xin vắng mặt và anh Nguyễn Xuân T vắng mặt. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, cả hai không còn sống chung, mỗi người sống một nơi, đã vi phạm nghiêm trong tình cảm vợ chồng, nên Hội đồng xét xử cho chị Đặng Thị Huỳnh H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T là có cơ sở chấp nhận được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Chị Đặng Thị Huỳnh H và anh Nguyễn Xuân T có 02 con chung tên Nguyễn Đặng Thiên K, sinh ngày 07/10/2019 và Nguyễn Đặng Thiên M, sinh ngày 10/10/2022. Hiện nay, cháu Nguyễn Đặng Thiên K và cháu Nguyễn Đặng Thiên M sống cùng với chị H. Xét cháu Thiên K và Thiên M còn nhỏ, cần được sống với mẹ để mẹ có thể chăm lo cho các cháu tốt hơn. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 cháu Nguyễn Đặng Thiên K, sinh ngày 07/10/2019 và Nguyễn Đặng Thiên M, sinh ngày 10/10/2022 cho chị Đặng Thị Huỳnh H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp được quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

Anh Nguyễn Xuân T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở anh T thực hiện quyền này. Trong trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T, được quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Huỳnh H không yêu cầu anh Nguyễn Xuân T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đưa ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Huỳnh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đưa ra giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 177 khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, luật sửa đổi bổ sung năm 2025.

Căn cứ Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Huỳnh H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Huỳnh H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Đặng Thiên K, sinh ngày 07/10/2019 và Nguyễn Đặng Thiên M, sinh ngày 10/10/2022 cho chị Đặng Thị Huỳnh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

3. Anh Nguyễn Xuân T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở anh T thực hiện quyền này. Trong trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

4. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Huỳnh H không yêu cầu anh Nguyễn Xuân T thực hiện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

5. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đặng Thị Huỳnh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

6. Về án phí: Chị Đặng Thị Huỳnh H phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006521 ngày 20/10/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, chị Đặng Thị Huỳnh H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được thông báo, niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt./.

Cỡ chữ