- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cẩm N. Buộc ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Thị Cẩm N số tiền hụi 108.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2024/DS-ST Ngày: 09 – 7 – 2024 V/v: “Tranh chấp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Thắng.
Ông Vũ Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 về: “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm N, sinh năm 1988. (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: 1/ Ông Lê Văn Đ. (Vắng mặt).
2/ Bà Bùi Thị N1. (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 08/5/2024 nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm N trình bày: Vào ngày 10/12/2021 âm lịch bà có mở hụi 3.000.000 đồng, gồm 60 chân, tháng khui 01 lần vào ngày 10 hàng tháng, ông Đ và bà N1 tham gia 02 chân trong danh sách hụi số thứ tự số 54, 55 tên N1. Đến ngày 10/7/2023 thì ông Đ và bà Nghi hốt hụi 01 chân. Bà đã giao đủ tiền lĩnh hụi cho ông Đ, bà N1. Đến ngày 19/9/2023 do có nhiều hụi viên không đóng hụi không có khả năng tràn hụi nên bà tuyên bố đình hụi. Sau khi hốt hụi ông Đ và bà N1 đóng hụi đến ngày 25/10/2023. Tính từ ngày 25/11/2023 cho đến ngày kết thúc hụi ngày 25/11/2026 thì ông Đ và bà N1 còn nợ 36 kỳ hụi x 3.000.000 đồng x 01 chân = 108.000.000 đồng. Đối với chân chưa hốt sau khi đình hụi bà đã thanh toán xong cho ông Đ và bà N1 không tranh chấp. Nay yêu cầu ông Đ và bà N1 thanh toán số tiền hụi còn nợ 108.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đ và bà N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của bà N.
Tại phiên tòa:
- Bà N trình bày: Hiện nay, hàng tháng bà vẫn gom tiền hụi của những hụi viên đã hốt hụi để thanh toán cho những người chưa hốt. Ông Đ và bà N1 đã hốt hụi nhưng vi phạm nghĩa vụ đóng hụi, do đó bà yêu cầu ông Đ và bà N1 thanh toán đến khi kết thúc hụi với số tiền 108.000.000 đồng.
- Ông Đ và bà N1 vắng mặt không có ý kiến trình bày khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Trần Thị Cẩm N khởi kiện ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 về tranh chấp hụi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 cư trú tại ấp K, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Đ và bà N1.
Về nội dung: Bà N xác định ông Đ và bà N1 tham gia chơi hụi do bà làm chủ, loại hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 10/12/2021 âm lịch, gồm 60 chân, ông Đ và bà N1 tham gia 01 chân. Sau khi hốt hụi ông Đ và bà N1 đóng hụi đến tháng ngày 25/11/2023 thì ngưng đóng cho đến nay. Ông Đ và bà N1 còn nợ 36 kỳ hụi chết với số tiền 108.000.000 đồng. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông Đ và bà N1 đều không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Xét yêu cầu của bà N là phù hợp với danh sách hụi ngày 10/12/2021 âm lịch, phù hợp với đơn xin xác nhận của bà Lê Thị N2, ông Trần Đông P, bà Nguyễn Thị T là các hụi viên cùng tham gia các dây hụi nêu trên. Mặc dù, chủ hụi tuyên bố đình hụi nhưng hụi viên đã hốt hụi vẫn phải thanh toán tiền hụi chết cho chủ hụi để chủ hụi thanh toán lại cho những hụi viên chưa hốt hụi. Do ông Đ và bà N1 vi phạm nghĩa vụ đóng hụi nên bà N yêu cầu số tiền hụi cho đến khi kết thúc hụi là có căn cứ. Đối với chân chưa hốt bà N đã thanh toán xong cho ông Đ và bà N1 không tranh chấp nên không xem xét, giải quyết. Từ đó, có cơ sở xác định việc ông Đ và bà N1 có tham gia hụi do bà N làm chủ và còn nợ số tiền 108.000.000 đồng là thực tế có xảy ra. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà N buộc ông Đ và bà N1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà N số tiền hụi còn nợ 108.000.000 đồng.
Trường hợp ông Đ và bà N1 chậm thanh toán số tiền nêu trên, thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N được Toà án chấp nhận nên ông Đ và bà N1 phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 471, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cẩm N. Buộc ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Thị Cẩm N số tiền hụi 108.000.000 đồng (Một trăm lẻ tám triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 phải chịu số tiền 5.400.000 đồng.
- Bà Trần Thị Cẩm N đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 2.700.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003480 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, bà N được nhận lại toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - TAND tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Như |