- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Đắc H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đắc H phạm tộị “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:138/2023/HS-ST Ngày: 07/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Ba.
Các Hội thẩm nhân dân: : Bà Nguyễn Thị Hồng
Ông Nguyễn Duy Thảo
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Lân – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Đắc H; Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam - Sinh ngày: 08 tháng 3 năm 2006 tại: Đồng Nai - Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số A đường L, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng - Nghề nghiệp: Lao động phổ thông - Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc : Kinh - Tôn giáo: Không - Trình độ học vấn: Lớp 09/12.
Con ông: Phạm Đắc T – Sinh năm: 1985 và bà Nguyễn Thị Xuân H1 - Sinh năm 1983, cả hai đều còn sống
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo H: Ông Phạm Đắc T – Sinh năm: 1985 và bà Nguyễn Thị Xuân H1 – Sinh năm: 1983 là cha mẹ của bị cáo - Cùng địa chỉ: Số A L, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Ông Phạm Đắc T có mặt tại phiên tòa.
Bà Nguyễn Thị Xuân H1 vắng mặt không có lý do.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Xuân N – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ. Địa chỉ liên lạc: Số I L, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Bị hại: Công ty TNHH MTV P - Trụ sở: Số B đường C, KĐT Quốc tế Đ, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật Công ty: Ông Võ Ngọc C – Chức vụ: Chủ tịch công ty.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Ngọc V – Chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV P. Vắng mặt không có lý do.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Em Nguyễn Thanh V1 – Sinh ngày: 24/3/2008 - Hiện đang ở tại: Trường G thuộc Bộ C2. Địa chỉ: Xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
Người đại diện hợp pháp của em V1: Ông Nguyễn Thanh T1 – Sinh năm: 1973 và bà Nguyễn Thị R – Sinh năm: 1986 là cha và mẹ của em V1 - Địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
2/ Em Trần Vũ Công D – Sinh ngày: 29/7/2009 - Địa chỉ: 1 L, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Người đại diện hợp của em D: Ông Trần L – Sinh năm: 1972 và bà Võ Thị Minh T2 – Sinh năm: 1982 là cha mẹ của em D - Địa chỉ: 1 L, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
3/ Em Trương Bảo T3 – Sinh ngày: 17/9/2007 - Địa chỉ: K L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của em T3: Bà Trương Thị Tuyết M – Sinh năm: 1989 là mẹ - Địa chỉ: K L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
4/ Em Tiêu Thị Thùy T4 – Sinh ngày: 13/11/2008 - Địa chỉ: B T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
Người đại diện hợp pháp của em T4: Bà Tiêu Thị Thu X – Sinh năm: 1978 là mẹ của em T4 - Địa chỉ: B T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
5/ Ông Nguyễn Tăng C1 – Sinh năm: 1962 – Địa chỉ: Tổ C, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
6/ Bà Nguyễn Thị Thu H2 – Sinh năm: 1989 – Địa chỉ: Số B đường Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Đại diện Đoàn thanh niên phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào các ngày 07/5/2023 và ngày 09/5/2023, tại nhà hàng S trong khu đô thị Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Phạm Đắc H cùng Nguyễn Thanh V1 đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào lúc 01h30′ ngày 07/5/2023, H cùng Nguyễn Thanh V1 sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS 43H7-7748 đến nhà hàng sân tập Golf trộm cắp 01 loa bose, 02 micro, 01 chai rượu ngoại nhãn hiệu sake vẩy rồng vàng của Công ty TNHH MTV P đem về nhà nghĩ H trên đường Đ, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng cất giấu. Sau đó, H và V1 đi cùng với Trần Vũ Công D, Trưởng Bảo T3, Tiêu Thị Thùy T4 đem 01 loa bose, 02 micro đến tiệm L1 tại H L, thành phố Đà Nẵng bán cho anh Nguyễn Tăng C1 với giá 1.500.000 đồng; đem chai rượu đến 01 tiệm trên đường T chưa xác định địa chỉ cụ thể, bán được 200.000 đồng. Số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản, H, V1, D, T4, T3 sử dụng trả tiền phòng và tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 01h30’ ngày 09/5/2023, H, V1 rủ thêm D sử dụng xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh BKS 43H7-7748 tiếp tục đến nhà hàng sân tập Golf D đứng ở ngoài cảnh giới, còn H và V1 vào trong lấy trộm 01 máy pha cà phê, 01 lò vi sóng, 01 bếp hồng ngoại, 01 ấm siêu tốc của Công ty P. Sau khi lấy trộm được tài sản, cả ba đem tài sản về nhà nghĩ H giấu. Đến khoảng 13h00’ cùng ngày, H và V1 đem máy pha cà phê đến cửa hàng C3 tại số B đường Đ bán cho Nguyễn Thị Thu H2 với giá 1.000.000 đồng. Riêng lò vi sóng, bếp hồng ngoại, ấm siêu tốc, H và V1 đem đến chợ trời tại đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng bán được 400.000 đồng. Số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản, H, V1, D, T4, T3 sử dụng trả tiền phòng và tiêu xài cá nhân hết.
Đến 9h30’ ngày 09/5/2023, anh Võ Ngọc V – là nhân viên công ty P phát hiện bị mất tài sản nên đến báo Công an phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 31/5/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T xác định giá trị loa Karaoke Bose: 11.543.000 đồng; máy pha cà phê: 20.628.000 đồng; 02 Micro wireless: 794.640 đồng; chai rượu Sake vảy vàng 1,8 lít: 975.000 đồng; Lò vi sóng: 834.000 đồng; bếp hồng ngoại Sunhouse: 539.400 đồng; ấm đun siêu tốc Philip:354.000 đồng. Như vậy tổng trị giá tài sản là 35.668.040 đồng.
Quá trình điều tra, Phạm Đắc H, Nguyễn Thanh V1, Trần Vũ Công D, Trương Bảo T3, Tiêu Thị Thùy T4 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp và tiêu thụ tài sản như đã nêu trên.
Vật chứng và xử lý vật chứng thu giữ:
- 01 loa xách tay hiệu Bose SIP10 màu đen, 02 micro Wireless TSaudio T1 Pro tạm giữ của anh Nguyễn Tăng C1 đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty P.
- 01 máy pha cà phê tự động hiệu Delonghi Eletta tạm giữ của chị Nguyễn Thị Thu H2 đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty P.
- 01 xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh BKS 43H7-7748 tạm giữ của Trương Bảo T3: Theo lời khai của T3 và V1, xe này do V1 mượn của 01 người bạn tên T5 để đi lại. Qua điều tra xác định xe này do chị Nguyễn Thị Ngọc B, nhưng hiện nay chị B không có hộ khẩu thường trú và không cư trú tại địa chỉ trên. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục tạm giữ, điều tra xử lý sau.
- 01 USB hiệu SanDisk bên trong có chứa video liên quan đến vụ trộm cắp tài sản do Võ Ngọc V giao nộp: Đây là tài liệu chứng cứ nên lưu trữ theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Phạm Đắc H đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho đại diện theo ủy quyền của Công ty P là anh Võ Ngọc V số tiền 1.000.000 đồng, bồi thường cho Nguyễn Tăng C1 số tiền 1.500.000 đồng, Nguyễn Thị Thu H2 số tiền 1.000.000 đồng; anh V, anh C1, chị H2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Phạm Đắc H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Từ những nội dung trên tại Cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Đắc H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Phạm Đắc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Đắc H từ 12 đến 18 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự đã bồi thường xong nên không đề cập đến.
- Án phí dân sự bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo:
- Về tôi danh “Trộm cắp tài sản” mà đại diện Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị cáo luật sư không tranh luận gì.
- Về điều luật đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật
Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Đắc H thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị vì do hoàn cảnh của bị cáo cha mẹ ly hôn, không được sự quan tâm chăm sóc chu đáo, bị cáo là người chưa thành niên còn nông cạn trong suy nghĩ và thiếu sự hiểu biết về pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đắc H nói lời nói sau cùng Bị cáo đã biết lỗi, hối hận về hành vi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Đắc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong 02 ngày 07/5/2023 và ngày 09/5/2023, tại nhà hàng S trong khu đô thị Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Phạm Đắc H cùng Nguyễn Thanh V1 và Trần Vũ Công D 02 lần có hành vi lén lút trộm cắp của Công ty TNHH MTV P gồm: 01 loa Karaoke Bose trị giá 11.543.000 đồng; 02 Micro wireless trị giá 794.640 đồng; 01 chai rượu Sake vảy vàng 1,8 lít trị giá 975.000 đồng; 01 máy pha cà phê trị giá 20.628.000 đồng; 01 lò vi sóng trị giá 834.000 đồng; 01 bếp hồng ngoại Sunhouse trị giá 539.400 đồng và 01 ấm đun siêu tốc Philip trị giá 354.000 đồng. Tổng trị giá tài sản H trộm cắp là 35.668.040 đồng (Ba mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi tám ngàn không trăm bốn mươi đồng), trong đó ngày 07/5/2023 là 13.312.640 đồng, ngày 09/5/2023 là 22.355.400 đồng.
Do đó, hành vi trên đây của bị cáo Phạm Đắc H đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 11/10/2023 của
Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật đều bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn tại địa phương. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Trong hai ngày từ ngày 07 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023 bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với giá trị tài sản ngày 07/5/2023 là 13.312.640 đồng, ngày 09/5/2023 là 22.355.400 đồng, do vậy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điềm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Đắc H có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, đã tác động đến gia đình đề bồi thường cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, khi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 02 tháng, nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo H đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Đắc H thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị vì do hoàn cảnh của bị cáo cha mẹ ly hôn, không được sự quan tâm chăm sóc chu đáo, bị cáo là người chưa thành niên còn nông cạn trong suy nghĩ và thiếu sự hiểu biết về pháp luật. HĐXX thấy đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo nên không có cơ sở chấp nhận áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự theo đề nghị của Luật sư để lượng hình với mức thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Đối với xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh BKS 43H7-7748 tạm giữ của Trương Bảo T3: Theo lời khai của T3 và V1, xe này do V1 mượn của 01 người bạn tên T5 để đi lại. Qua điều tra xác định xe này do chị Nguyễn Thị Ngọc B, nhưng hiện nay chị B không có hộ khẩu thường trú và không cư trú tại địa chỉ trên. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục tạm giữ, điều tra xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thanh V1, Trần Vũ Công D tham gia trộm cắp cùng H; Trương Bảo T3, Tiêu Thị Thùy T4 có hành vi cùng H, V1, D đi bán tài sản nhưng V1, T3, T4 đều chưa đủ 16 tuổi, D chưa đủ 14 tuổi nên Công an quận T ra Quyết định xử phạt hành chính đối với V1, T3, T4 là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.
Án phí HSST: Bị cáo Phạm Đắc H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đắc H phạm tộị “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Phạm Đắc H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Đắc H phải chịu là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, em Trần Vũ Công D và em Trương Bảo T3 có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 07/11/2023.
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết trích sao bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - Những người tham gia tố tụng- - Viện kiểm sát nhân dân Q. Thanh Khê- - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng- - Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê- - Cơ quan thi hành án hình sự Công an TP Đà Nẵng - Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng - Sở tư pháp thành phố Đà Nẵng - Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Ba THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |