vanban.org

Bản án 138/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 22/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Anh H 09 (Chín) tháng tù; cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Anh H cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Trần Anhn H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2023/HS - ST
Ngày 22 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Tám.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và bà Lê Thị Bích Thuần.

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Châu, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2023/TLST - HS ngày 06 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2023/QĐXXST – HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Anh H, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1993, tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn X, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang Y và bà Nguyễn Thị L; vợ: Lưu Thị Kim H và có 03 con, (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, “có mặt”.

Bị hại: Công an huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Duy N; chức vụ: Trưởng Công an huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1977, “vắng mặt”.

Chức vụ: Cán bộ Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện Bình Xuyên, (là người đại diện theo ủy quyền lại của ông Nguyễn Thanh L – Phó Trưởng Công an huyện Bình Xuyên; văn bản ủy quyền ngày 27 tháng 02 năm 2023).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 26 tháng 02 năm 2023, Trần Anh H, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda –Wave, số loại Blade, biển kiểm soát 88H1 - 195.15 của mình lưu thông trên đường; khi đi đến km 14 + 250 đường ĐT 311 thuộc thôn Gò Dẫu, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, thì bị Tổ tuần tra kiểm soát giao thông, thuộc Đội Cảnh sát giao thông - Công an huyện Bình Xuyên dừng xe mô tô để kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển mô tô khi tham gia giao thông. Kết quả kiểm tra trong hơi thở của H có nồng độ cồn là 0.030mg/L và tại thời điểm kiểm tra H không xuất trình được giấy phép lái xe theo quy định, không có giấy đăng ký xe mô tô. Tổ tuần tra giao thông, Công an huyện Bình Xuyên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đường bộ số 0004592 đối với H các lỗi vi phạm nêu trên và lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính số 0005616 (tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, số loại Blade, biển kiểm soát 88H1 - 195.15). Sau khi lập xong biên bản, H ký nhận vào những biên bản này và được cán bộ Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện Bình Xuyên giao cho giữ mỗi loại một biên bản một bản (liên 2). Sau đó chiếc xe mô tô tạm giữ của H được tổ tuần tra giao thông, Công an huyện Bình Xuyên để vào trong khu vực căng dây của Cảnh sát giao thông ở trên vỉa hè, để quản lý, trông giữ; quá trình đứng ở mép đường ngoài khu vực căng dây thì H nhìn thấy xe của mình bị tạm giữ, chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa, nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe đem về nhà để cất giấu. Khoảng 30 phút sau, lợi dụng trời tối, lực lượng trong tổ tuần tra đang dừng phương tiện, kiểm tra, lập biên bản các phương tiện tham gia giao thông khác, không để ý đến khu vực để các xe mô tô đã tạm giữ, trong đó có xe mô tô của H, thì H đi vào dắt trộm xe mô tô biển kiểm soát 88H1 - 195.15 xuống lòng đường rồi nổ máy đi về, cất giấu ở lán xe sau nhà.

Sau khi phát hiện bị mất chiếc xe mô tô, tổ tuần tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Xuyên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Xuyên đã triệu tập H đến trụ sở Công an huyện Bình Xuyên để làm việc; tại Cơ quan cảnh sát điều tra Trần Anh H đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp của mình và giao nộp lại xe mô tô biển kiểm soát 88H1 - 195.15

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL - HĐĐGTS ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng Hình sự huyện Bình Xuyên, kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, biển kiểm soát 88H1 - 195.15 là 8.100.000 đồng, (Tám triệu một trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 134/CT-VKSBX ngày 04 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố Trần Anh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố Trần Anh H về tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Anh H từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Phạm Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa; xong trong giai đoạn điều tra đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo và vật chứng của vụ án đã thu thập được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Xuyên, của Điều tra viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 26 tháng 2 năm 2023, tại km 14+ 250 đường ĐT 311 thuộc địa phận thôn Gò Dẫu, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda -Wave, số loại Blade, biển kiểm soát 88H1 - 195.15 của Tổ tuần tra kiểm soát giao thông, thuộc Đội Cảnh sát giao thông - Công an huyện Bình Xuyên (chiếc xe này này là phương tiện của bị cáo vi phạm hành chính đã bị tổ tuần tra kiểm soát giao thông lập biên bản và đang tạm giữ). Trị giá xe mô tô bị cáo trộm cắp là 8.100.000 đồng, (Tám triệu một trăm nghìn đồng)

[3]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại; vật chứng vụ án đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp, có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Anh H lén lút trộm cắp xe mô tô, đang thuộc quyền quản lý của Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện Bình Xuyên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh được quy định theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm... ”

[4]. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền quản lý, trông giữ tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật giao nhiệm vụ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến hoạt động tuần tra, kiểm soát giao thông của Công an huyện Bình Xuyên nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật, mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm và răn đe, phòng ngừa chung.

[5]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Anh H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị cáo chiếm đoạt trước khi bị thu giữ là thuộc quyền sở hữu của bị cáo; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, là các căn cứ để Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có chỗ ở ổn định và nơi cư trú rõ ràng, nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật; giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo cư trú như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ điều kiện giáo dục, giúp bị cáo tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên đã trả xe mô tô biển kiểm soát: 88H1 - 195.15 cho Công an huyện Bình Xuyên, sau khi nhận lại tài sản, Công an huyện Bình Xuyên không có ý kiến gì thêm, nên việc xử lý tiếp theo đối với xe mô tô biển kiểm soát: 88H1 - 195.15 sẽ theo thủ tục hành chính của Công an huyện Bình Xuyên; nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[7]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Anh H 09 (Chín) tháng tù; cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Anh H cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Anh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ