- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-9-2023. V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ – TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành và bà Hoàng Thị Bích Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/02/2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 15/9/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bích H - sinh năm: 1978.
Địa chỉ thường trú: Ấp Ng L, xã Ph X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, ấp B C, xã Ph X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Hồ Hải H – sinh năm: 1977.
Địa chỉ thường trú: Ấp H L, xã H Th, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, ấp B Ch, xã Phú Xuân, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Bích H trình bày:
Bà và ông Hồ Hải H tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H Th, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/10/2005.
Trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông H chơi cờ bạc, bà đã khuyên bảo nhưng không có tác dụng dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau rồi còn đánh đập bà. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Hồ Tiến Đ – sinh ngày 29/8/2006 và cháu Hồ Thị Thu Th – sinh ngày 28/01/2010. Khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, cháu Th và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai, trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án bị đơn ông Hồ Hải H trình bày:
Ông và bà Phạm Thị Bích H tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H Th, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/10/2005.
Trong cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về kinh tế, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc dẫn đến vợ chồng xảy cãi vã nhau. Trước đây, ông có chời cờ bạc nhưng giờ ông đã bỏ và tu chí làm ăn để lo cho cuộc sống gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau mỗi người có một cuộc sống riêng.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Hồ Tiến Đ - sinh ngày 29/8/2006, cháu Hồ Thị Thu Th – sinh ngày 28/01/2010. Khi ly hôn, ông để cho cháu Đ, cháu Th tự quyết định. Trong trường hợp cháu Đ, cháu Th có nguyện ở với ông thì ông đồng ý nuôi dưỡng và không yêu cầu bà Hạnh cấp dưỡng nuôi con. Cháu Đ, cháu H có nguyện vọng ở với bà H thì ông đồng ý và ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các Điều 91, 92, 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 2 và Điều 11 Luật cư trú; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Bích H cho bà Phạm Thị Bích H được ly hôn với ông Hồ Hải H.
Về con chung: Giao cháu Hồ Tiến Đ - sinh ngày 29/8/2006, cháu Hồ Thị Thu Th – sinh ngày 28/01/2010 cho bà Phạm Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Phạm Thị Bích H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Hồ Hải H hiện nay đang cư trú, sinh sống tại tổ 2, ấp B Ch, xã Ph X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 2, Điều 11 Luật cư trú.
Về quan hệ pháp luật: Bà Phạm Thị Bích H khởi kiện xin ly hôn với ông Hồ Hải H và yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Tiến Đ - sinh ngày 29/8/2006, cháu Hồ Thị Thu Th – sinh ngày 28/01/2010 nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xác định tư cách đương sự: Bà Phạm Thị Bích H là nguyên đơn và ông Hồ Hải H là bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tống đạt văn bản tố tụng: Các đương sự đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Về tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đương sự không có ý kiến gì. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ngày 15/9/2023, Tòa án mở phiên tòa nhưng do ông Hồ Hải H vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa là ngày 29/9/2023.
Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù ông Hồ Hải H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phạm Thị Bích H và ông Hồ Hải H kết hôn là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã H Th, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/10/2005, theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại biên bản lấy lời khai của các đương sự, kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Bà Phạm Thị Bích H yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Hải Hồ vì tình cảm vợ chồng không còn, ông H chơi cờ bạc, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay, mạnh ai người đó sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Mặc dù, ông Hồ Hải H không đồng ý ly hôn nhưng quá trình giải quyết ông Hồ Hải H thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn về kinh tế, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi vã nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay mỗi người có một cuộc sống riêng. Lời trình của ông H, bà H phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương xã Ph X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Xét thấy: Trong cuộc sống bà H, ông H đã có những cư xử chưa phù hợp với cuộc sống chung của vợ chồng dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hạnh là có cơ sở.
Về con chung: Ông Hồ Hải H, bà Phạm Thị Bích H có 02 người con chung là cháu Hồ Tiến Đ - sinh ngày 29/8/2006, cháu Hồ Thị Thu Th – sinh ngày 28/01/2010.
Xét thấy: Cháu Hồ Tiến Đ, cháu Hồ Thị Thu Th có nguyện vọng ở với bà Hạnh và được bà Hạnh được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Ông Hồ Hải H đồng ý để cho bà H nuôi dưỡng cháu Đ, cháu Th. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho con nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Hồ Tiến Đ, cháu Hồ Thị Thu Th cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Phạm Thị Bích H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Khoản 2 Điều 2 và Điều 11 Luật cư trú.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích H.
1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Bích H được ly hôn với ông Hồ Hải H.
2. Về con chung: Ông Hồ Hải H, bà Phạm Thị Bích H có 02 người con chung là cháu Hồ Tiến Đ - sinh ngày 29/8/2006, cháu Hồ Thị Thu Th – sinh ngày 28/01/2010. Giao cho bà Phạm Thị Bích H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung là cháu Hồ Tiến Đạt và cháu Hồ Thị Thu Th. Tạm thời, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không yêu cầu.
Ông Hồ Hải H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Phạm Thị Bích H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0003150 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà H đã nộp đủ án phí.
5. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú; - UBND xã Hưng Thịnh; - Lưu (hồ sơ, án văn)./ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bá Đức |