- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:138/2022/HSST Ngày: 26/8/2022 |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lưu Thị Thôi
2. Ông Lê Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2022/TLST- HS ngày 17 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2022/QĐXXST-HS ngày 03/8/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T. Tên gọi khác: Út. Giới tính: Nam; Sinh năm: 1999; Tại: Bình Thuận; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: khu phố 3, phường Đức Long, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Lao động biển; Cha: Không rõ; Mẹ: Nguyễn Thị Mộng O. Sinh năm: 1974; Chung sống như vợ chồng với Dương Thị L; sinh năm 1999 có 1 con chung sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: (vắng mặt)
1. Dương Thị L – sinh năm 1999; Địa chỉ: Khu phố 4, phường Lạc Đạo, Phan Thiết, Bình Thuận.
2. Nguyễn Hồng T – sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố 2, phường Đức Long, Phan Thiết, Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 15/5/2021, do nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn T dùng điện thoại gọi điện cho một đối tượng tên H ở xã Tiến Lợi (không rõ nhân thân) để hỏi mua 800.000 đồng ma túy đá, H đồng ý bán và hẹn giao ma túy ở vòng xoay Suối Cát thuộc xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết. Tú bắt xe ôm đến vòng xoay Suối Cát gặp H, T đưa cho H 800.000 đồng, H nhận tiền rồi đưa cho T 01 túi nylon không màu, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy đá.
Sau đó, T bắt xe ôm về lại nhà ở khu phố 3, phường Đức Long. T phân lẻ số ma túy trên thành 07 gói nylon nhỏ có kích thước khác nhau, số ma túy còn dư T bỏ vào ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu (dụng cụ sử dụng ma túy), sau đó T bỏ 06 gói nylon có chứa ma túy vào túi áo khoác, rồi treo áo trong phòng ngủ của T, còn 01 gói nylon và ống thủy tinh thổi phồng một đầu bên trong chứa ma túy T để trên ván nơi T nằm ngủ. Đến khoảng 21 giờ ngày 15/5/2021, Tú nhắn tin cho Dương Thị L, T nhờ Liên mua đồ ăn cho T thì khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, L đến nhà T, cả hai đang ngồi trong phòng nói chuyện thì lực lượng Công an phường Đức Long, thành phố Phan Thiết kiểm tra hành chính, phát hiện T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản thu giữ những tang vật có liên quan và đưa T về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an T đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên, mục đích nhằm để sử dụng.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ bên trong túi áo khoác phía bên phải treo trong phòng ngủ của T 01 cân tiểu ly và 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có khóa nhựa kéo một đầu kích thước (10 x 5,5)cm, bên trong có:
+ 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước (03 x 0,9)cm chứa tinh thể màu trắng.
+ 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước (02 x 01)cm chứa tinh thể màu trắng.
+ 03 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước (2,7 x 0,9) cm chứa tinh thể màu trắng.
+ 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước (2,5 x 0,9) cm chứa tinh thể màu trắng. (Ký hiệu M1 khi giám định).
- 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước khoảng (4,1 x 3,5) cm, bên trong có 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (02 x 1,4)cm, bên trong có tinh thể màu trắng, được thu giữ trên ván cạnh nơi T ngồi. (Ký hiệu M2 khi giám định).
- 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, bên trong đầu thổi phồng có chứa tinh thể màu trắng, được thu giữ cạnh nơi T ngồi. (Ký hiệu M3 khi giám định).
Tại Bản kết luận giám định số 900/KLGĐ-PC09 ngày 14/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
-Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,5200 gam; là Methamphetamine.
-Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0974 gam; là Methamphetamine.
-Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,0720 gam; là Methamphetamine.
Tổng cộng: 0,6894 gam Methamphetamine.
Xử lý vật chứng:
Số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 900/1, số 900/2, số 900/3 và 01 cân tiểu ly. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 110/QĐ/KSĐT/VKS-HS ngày 03/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 đến 18 tháng tù và đề nghị áp dụng các quy định tại khỏa 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng trong vụ án.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/5/2021, tại khu phố 3, phường Đức Long, thành phố Phan Thiết. Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,6894 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là một người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức đầy đủ về hành vi của mình đối với xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo nhận thức được Methamphetamine là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ… trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn xem thường pháp luật, nên đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bất chấp hậu quả.
Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức hình phạt thật nghiêm, không chỉ nhằm trừng trị, mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo, vì vậy nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.
Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 cân tiểu ;y và số mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng có tên là Hiếu là người đã bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Nguyễn Văn T 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
* Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly và số mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong 03 phong bì niêm phong số 900/I, 900/II, 900/III có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Thuận là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 115 ngày 12/8/2022).
- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Tp Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Công an Tp Phan Thiết; - Người tham gia tố tụng; - UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Thi hành án thành phố Phan Thiết; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân Các hội thẩm nhân dân : 1/Ông Nguyễn Bính , 2/ Bà Lưu Thị Thôi , Căn cứ vào các điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng Hình sự ; sơ thẩm đã tiến hành nghị án với vụ án : Tào Xuyên, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa , bị truy tố về tội “ Cố ý gây thương tích ” theo quy định tại các điểm a, khoản 01,khoản 03 Điều 104 Bộ luật hình sự. xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo , người bào chữa và những người tham gia tố tụng kháctại phiên tòa ,Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề giải quyết trong vụ án như sau : ý gây thương tích ” ” theo quy định tại các điểm a khoản 01,khoản 03 Điều 104 Bộ luật hình sự ; Kết quả biểu quyết : 3/3 ; 2/ Về điều luật áp dụng : sự.Kết quả biểu quyết : 3/3 3/ Về mức hình phạt : hành án . Kết quả biểu quyết : 3/3. 4/ Về các vấn đề khác : sự , điều 609 Bộ luật Dân sự : 22 triệu đồng tiền chi phí điều trị . triệu dồng tiền bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại . người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. án phí sơ thẩm dân sự . những phần có liên quan là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của người bị hại là 15 ngày tròn kể từ ngày được niêm yết hoặc tống đạt bản án . Kết quả biểu quyết : 3/3 HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Bính Lưu Thị Thôi | TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------------- Phan Thiết , ngày 29 tháng 7 năm 2015 ; Vào hồi 10 giờ 00’ ngày 29 tháng 7 năm 2015 tại phòng nghị án , Hội đồng xét xử Nguyễn Ngọc Yến – Sinh năm : 1957 – Trú tại, Khu phố Yên Vực 1, phường Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa , trên cơ sở 1/ Về tội danh : Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Yến đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ,khoản 3 Điều 104 , điểm p , b khoản 01 , khoản 02 D(iều 46 , điều 47 Bộ luật hình *Xử phạt : Nguyễn Ngọc Yến 30 tháng tù , thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi *Về trách nhiệm bồi thường Dân sự : Áp dụng khoản 01 điều 42 Bộ luật Hình Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Ngọc Yến đã bồi thường cho Ông Lê Ngọc Hoàng Tuyên buộc Nguyễn Ngọc Yến phải tiếp tục bồi thường cho Lê Ngọc Hoàng 10 Từ khi bản án có hiệu lực, người được thi hành án có đơn yêu cầu, hàng tháng * Về án phí : Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và500.000đ Quyền kháng cáo bản án của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Xuân |