vanban.org

Bản án 138/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Mai Thị L và ông Danh Văn S là vợ chồng.

Giao cháu Danh Thị T, sinh ngày 16/8/2008 cho bà Mai Thị L nuôi dưỡng, giáo dục. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hngđ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Mai Thị L và ông Danh Văn S là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

,
Bản án số: 138/2022/HNGĐ-ST
Ngày 12–12–2022
“V/v xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Văn Sol

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 596/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mai Thị L, sinh năm 1982 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp KT, xã ĐT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Danh Văn S, sinh năm 1978 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp KT, xã ĐT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Mai Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Danh Văn S chung sống với nhau vào năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau cách nay khoảng 02 năm, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống. Nay bà xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà và ông S có với nhau 04 người con chung tên Danh Thị M, sinh năm 2001; Danh Văn K, sinh năm 2003; Danh Văn B, sinh ngày 14/10/2004; Danh Thị T, sinh ngày 16/8/2008. Do Danh Thị M, Danh Văn K, Danh Văn B đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, đối với Danh Thị T có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ông Danh Văn S trình bày:

Ông thống nhất với nội dung trình bày của bà Mai Thị L. Đối với yêu cầu của bà L thì ông đồng ý ly hôn, đối với con chung tên đối với Danh Thị T có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Tòa án nhận định:

[1] Tranh chấp giữa bà Mai Thị L và ông Danh Văn S là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại ấp KT, xã ĐT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Mai Thị L và ông Danh Văn S sống chung với nhau vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì bà L có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của bà L đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về nội dung vụ án nhưng do không có đăng ký kết hôn nên Tòa án căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, bà L và ông S đồng ý ly hôn nhưng do không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên mối quan hệ hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án tuyên bố không công nhận bà Mai Thị L và ông Danh Văn S là vợ chồng.

Về con chung: Xét thấy, bà L và ông S có yêu cầu đối với Danh Thị T có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng, người còn lại không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tại biên bản làm việc ngày 12/12/2022 Danh Thị T có nguyện vọng được sống chung với bà L nên Hội đồng xét xử giao cháu Trân cho bà L nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận bà Mai Thị L và ông Danh Văn S là vợ chồng.

Giao cháu Danh Thị T, sinh ngày 16/8/2008 cho bà Mai Thị L nuôi dưỡng, giáo dục.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Mai Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), ngày 03/11/2022 bà L có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0008529 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi haành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ