vanban.org

Bản án 138/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 23/08/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Tr:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Tr được ly hôn anh Nguyễn Bình V. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Bình Bảo Bảo, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2012 và Nguyễn Phạm Bảo Anh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2015 cho chị Phạm Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Tr và anh Nguyễn Bình V ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Tr:
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Mạnh Hùng

Bà Nguyễn Thị Mai Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Tr - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 166/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 về việc ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tr, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm Giữa, thôn Lương Quy, xã Lê Lợi, huyện AD, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bình V, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm Giữa, thôn Lương Quy, xã Lê Lợi, huyện AD, thành phố Hải Phòng, hiện ở Cộng hòa Liên bang Đức; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai của chị Phạm Thị Tr trình bày:

Chị và anh Nguyễn Bình V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Lê Lợi, huyện AD, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 01 năm 2013. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được thời gian, sau thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm, lối sống. Mâu thuẫn ngày càng căng thắng, trầm trọng nhất vào năm 2019 đến nay. Từ đó đến nay anh chị đã sống ly thân, không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế nữa. Hai bên gia đình và bạn bè đã hòa giải nhưng không có kết quả. Nay tình cảm vợ chồng không còn, khả năng hàn gắn, đoàn tụ là không thể nên chị Phạm Thị Tr đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Bình V.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Bình Bảo Bảo, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2012 và Nguyễn Phạm Bảo Anh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2015. Khi ly hôn, chị Tr đề nghị Tòa án giao con cho chị Tr nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đơn xin ly hôn của bị đơn được hợp pháp hóa lãnh sự, anh Nguyễn Bình V trình bày:

Anh Nguyễn Bình V thống nhất về quá trình kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị Phạm Thị Tr. Nay, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Bình Bảo Bảo, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2012 và Nguyễn Phạm Bảo Anh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2015. Ly hôn, chị Tr đề nghị Tòa án giao con cho chị Tr nuôi dưỡng, anh V đồng ý. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Bình V hiện đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đức, nguyên đơn chị Phạm Thị Tr hiện đang sinh sống tại Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Phạm Thị Tr và bị đơn anh Nguyễn Bình V đều vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về tố tụng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Tr và anh Nguyễn Bình V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lê Lợi, huyện AD, thành phố Hải Phòng vào ngày 18 tháng 01 năm 2013. Theo quy định tại Điều 8; Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, về sau thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống. Năm 2019, anh V sang Cộng hòa Liên bang Đức làm ăn sinh sống đến nay chưa trở về V Nam. Từ đó chị Tr và anh V sống ly thân cho đến nay. Nay, chị Tr nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn, anh Nguyễn Bình V cũng thống nhất với quan điểm của chị Phạm Thị Tr. Do vậy cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đề nghị ly hôn của chị Phạm Thị Tr.

Về con chung: Chị Phạm Thị Tr và anh Nguyễn Bình V có 02 con chung là Nguyễn Bình Bảo Bảo, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2012 và Nguyễn Phạm Bảo Anh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2015. Khi ly hôn, chị Tr và anh V thống nhất đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị Tr nuôi dưỡng. Xét thấy hiện hai con chung đang ở với chị Tr tại V Nam, hai cháu đã có đơn đề nghị được ở với mẹ. Vì vậy, cần giao hai con chung cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Tr và anh Nguyễn Bình V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Tr là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Tr và anh Nguyễn Bình V được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Tr:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Tr được ly hôn anh Nguyễn Bình V.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Bình Bảo Bảo, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2012 và Nguyễn Phạm Bảo Anh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2015 cho chị Phạm Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. chăm sóc, nuôi dưỡng.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Tr và anh Nguyễn Bình V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Tr phải chịu 300.000đ ba trăm nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ ba trăm nghìn đồng theo Biên lai số 0000547 ngày 29 tháng 6 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Phạm Thị Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Anh Nguyễn Bình V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ