vanban.org

Bản án 138/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 31/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da nam màu đen.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 10/11/2021) Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.723.000 đồng (một triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án về phần án phí, số tiền còn lại trả cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Tho - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da nam màu đen.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2021/HSST
Ngày 31-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1 . Bà Nguyễn Thị Mai.

2 . Ông Nguyễn Văn Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Trần Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 3 lô 4 Tổ dân phố C, phường C, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ con; tiền án: Án số 11/2013/HSST ngày 28/02/2013 Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử 07 năm tù về tội Cướp giật tài sản; nhân thân: Án số 02/HSST ngày 09/01/2003 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 08 năm tù về tội Cướp tài sản (đã xóa án); Ngày 21/01/2000 Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;bắt tạm giữ từ ngày 05/7/2021, tạm giam ngày 13/7/2021; có mặt.

- Bị hại: Đinh Thị Kim X, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 7C/8/87/52 M, phường D, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Thị Huệ L; vắng mặt

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 05/7/2021, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen xám, biển kiểm soát 15B3-902.XX đi trên đường Thiên Lôi theo hướng Cầu Rào đi về ngã tư Phúc Tăng. Khi đi qua số nhà 491 T, V, Lê Chân, Hải Phòng thì Thọ nhìn thấy chị Đinh Th ị Kim X đang đứng cạnh 01 xe mô tô dựng cạnh vỉa hè, cốp xe mở bên tron g có chiếc túi xách màu đen. T nảy sinh ý định chiếm đ oạt chiếc túi xách của chị X , T quay xe lại đi ngược chiều đến áp sát vào chiếc xe của chị X, lúc này chị X vừa gọi điện xong, cất điện thoại vào túi xách rồi để vào trong cốp xe . T vừa điều khiển xe áp sát vừa dùng tay trái thò vào trong cốp xe giật lấy chiếc túi xách của chị X rồi ngay lập tức tăng ga phóng xe bỏ chạy về hướng Cầu Rào, chị X thấy T giật chiếc túi xách của mình thì truy hô “ Cướp, Cướp” và chạy bộ đuổi theo Thọ, lúc này chị Nguyễn Thị Huệ L (là bạn đi cùng chị X) đang mua hoa quả ở bên đường đối diện nhìn thấy T giật túi xách của chị X nên cũng đuổi theo truy bắt T . T điều khiển xe chạy được khoảng 50 m thì va vào ô tô đi ngược chiều làm Thọ ngã ra đường trước khu vực trước cửa nhà số 548A T, V, Lê Chân, Hải Phòng và bị quần chúng nhân dân bắt đưa về Công an phường Vĩnh Niệm . Thu giữ của T 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3-902.XX, 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 1.723.000 đồng.

Bị hại chị Đinh Thị Kim X khai: Khoảng 11 giờ ngày 05/7/2021, chị X đi đến khu vực trước cửa nhà số 491 T, Vĩnh Niệm, Lê Chân, Hải Phòng cùng với bạn. Trong lúc chờ bạn, chị dựng xe bên đường và lấy điện thoại ra gọi. Sau khi gọi điện thoại xong, chị bỏ điện thoại vào túi xách đang để trong cố p xe. Ngay lúc này, chị thấy T áp sát vào xe mình và giật lấy túi xách. Do sự việc xảy ra nhanh nên chị không kịp phản ứng mà truy hô “ Cư ớp, Cướp” và chạy bộ đuổi theo T. Quá trình đuổi theo T, chị thấy T va vào ô tô đi ngược chiều rồi ngã ra đường. Chị đã nhặt lại túi xách rơi ra gần chỗ T ngã rồi đến trình báo sự việc tại Công an phường Vĩnh Niệm. Tại cơ quan Công an, kiểm tra túi xách của chị X có tài sản gồm: 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, 01 ví giả da bên màu vàng trong có 01 căn cước công dân mang tên Đinh Thị Kim X và số tiền 1.100.000 đồng. Chị X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Tại kết luận định giá giá tài sản số 70 ngày 13/7/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Lê Chân kết luận: Chiếc túi xách giả da, màu đen, có dây đeo bằng kim loại màu vàng sẫm đã qua sử dụng và 01 chiếc ví giả da, màu vàng nhạt đã qua sử dụng không có đủ căn cứ định giá; 01 chiếc Iphone XS Max, 64GB màu vàng đã qua sử dụng có giá trị 10.500.000 đồng .

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai: Khoảng 11 giờ ngày 05/7/2021, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B3-902.XX đi trên đường Thiên Lôi theo hướng từ Cầu Rào về ngã tư Phúc Tăng. Khi đi qua khu vực trước cửa nhà số 491 T, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng thì nhìn thấy chị X đang đứng cạnh 01 xe mô tô dựng cạnh vỉa hè, cốp xe mở, bên trong có 01 chiếc túi xách màu đen nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. T quay xe lại để áp sát xe của chị X rồi dùng tay trái thò vào trong cốp xe, giật lấy túi xách của chị X, sau khi lấy được túi T điều khiển xe tăng tốc bỏ chạy về hướng Cầu Rào. Trong lúc bỏ chạy, T đã va chạm vào 01 xe ô tô và ngã ra đường, bị quần chúng nhân dân bắt giữ và giao cho Công an.

Người chứng kiến chị Nguyễn Thị Huệ L khai phù hợp với lời khai của chị X.

Tại bản Cáo trạng số 136/CT-VKSLC ngày 08/11/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Cướp giật tài sản theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 05/7/2021 bị cáo điểu khiển xe mô tô Airbalde, biển kiểm soát 15B3-902.XX đi từ Cầu Rào về đường Thiên Lôi, khi đi đến đoạn chợ bị cáo thấy chị X đứng ở sát 01 xe mô tô dựng cạnh vỉa hè, cốp xe mở, trong cốp có 01 chiếc túi xách màu đen nên bị cáo cho xe quay lại, khi đến gần xe của chị X bị cáo áp sát vào xe, giảm ga dùng tay trái giật chiếc túi xách trong cốp xe trước mặt chị X, khi lấy được túi xách bị cáo tăng ga bỏ chạy được khoảng 50m thì va chạm với xe ôtô, ngã ra đường, bị quần chúng nhân dân bắt giữ giao cho công an. Mục đích bị cáo cướp giật tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khi bị bắt giữ Công an thu giữ của bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, 01 ví giả da màu đen bên trong có 1.723.000 đồng và 01 xe mô tô BKS 15B3-902.XX. Bị cáo đề nghị HĐXX trả cho bị cáo điện thoại Iphone màu vàng và 1.723.000 đồng vì đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội; đối với 01 ví giả da màu đen của bị cáo không còn giá trị sử dụng vì đã cũ, bị cáo cũng không có nhu cầu nhận lại. Còn xe mô tô bị cáo mượn của mẹ bị cáo, mẹ bị cáo không biết bị cáo dùng xe đi cướp giật tài sản. Tại Công an phường Vĩnh Niệm bị cáo được chứng kiến việc kiểm tra túi xách của chị X, bên trong túi xách có 01 điện thoại Iphone XS Max màu vàng, 01 ví giả da màu vàng bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Đinh Thị Kim X và số tiền 1.100.000 đồng. Bị cáo khẳng định chiếc túi xách trên là bị cáo giật từ c ốp xe của chị X, việc Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo về tội Cướp giật tài sản là đúng, bị cáo không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa chị Đinh Thị Kim X có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì đối với bị cáo Nguyễn Văn T .

Tại đơn xin xét xử vắng mặt người làm chứng là chị Nguyễn Thị Huệ L trình bày: Do có việc bận nên chị không đến phiên tòa, chị đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Tòa án nhân dân quận Lê Chân tiến hành xét xử vắng mặt chị.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung trên và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại bị hại, bị hại không yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da màu đen. Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng và số tiền 1.723.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 05/7/2021 Nguyễn Văn T đã dùng xe máy để thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc túi xách của chị Đinh Thị Kim X bên trong có 1.100.000 đồng và 01 điện thoại Iphone XS Max trị giá 10.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 11.600.000 đồng tại khu vực trước cửa nhà số 491 T, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng rồi nhanh chóng tẩu thoát và đã bị bắt quả tang cùng vật chứng nên hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm tội Cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo sử dụng xe môtô biển kiểm soát 15B3-902.XX để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị X; bản thân bị cáo có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý. Do vậy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cướp giật tài sản với tình tiết định khung là dùng thủ đoạn nguy hiểm và tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử bị cáo mức án nghiêm, bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, chị Xuyến không có yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 ví giả da màu đen không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng bị vỡ màn hình không liê n quan đến việc phạm tội nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 1.723.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 xe mô tô nhãn Honda Airblade màu đen xám, biển kiểm soát 15B3-902.78 bị cáo khai mượn của bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ bị cáo, khi cho T mượn xe, bà T không biết T sử dụng xe để đi cướp giật tài sản. Kết quả điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan đi ều tra tách ra xử lý sau, HĐXX không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, Xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 7 năm 2021.

Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da nam màu đen. Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 10/11/2021)

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.723.000 đồng (một triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án về phần án phí, số tiền còn lại trả cho bị cáo.

(Theo giấy nộp tiền ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Công an quận Lê Chân vào kho bạc Nhà nước quận Lê Chân)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại Đinh Thị Kim X vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ