- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Thanh Q - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 20 …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 06 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2021/HS-ST Ngày: 22/4/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Trường Sơn.
2. Bà Huỳnh Thị Ngọc Vi.
3. Bà Trần Thị Như Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Q - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng năm 202 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2021/HSST ngày 03/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1399/2021/QĐXXST-HS ngày 01/4/2021 đối với bị cáo:
Phạm Thanh Quốc, sinh năm 1991 tại Thành phố H; nơi thường trú: / đường Nguyễn Văn Quá, Khu phố , phường Đ, Quận 2, Thành phố H; ch ở: 6/
p M Hòa , xã Trung Chánh, huyện M, Thành phố H; nghề nghiệp: không; trình độ học v n: 8/ 2; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; Q tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Giang Thị Tuyết M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị b t tạm giam ngày 02/ /20 . (có m t).
Người bào chữa: Luật sư Lê Ngọc Lam Điền thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh Q. (có m t).
Bị hại: Nguyễn Nhật T, sinh năm
, đã chết ngày 0 / /20 .
Đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Nguyễn Bá H, sinh năm: 1965; trú tại: p Đại Thôn, xã Phước Hảo, huyện C, tỉnh T là cha ruột của bị hại Nguyễn Nhật T. (có m t).
2. Bà Huỳnh Thị C, sinh năm: 1964; tú tại: p Nhơn Hòa , xã Đức Hòa Thượng, huyện Đ, tỉnh L là mẹ ruột của bị hại Nguyễn Nhật T. (có m t). 3. Bà Nguyễn Thị iễm L, sinh năm: 1994; trú tại: p Thôi Môi, xã Hòa Khánh Đông, huyện Đ, tỉnh L là vợ của bị hại Nguyễn Nhật T. (có m t). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Trần Hoàng Q, sinh năm: 1991; trú tại: / B Khu phố , đường Nguyễn Văn Q, phường Đ, Quận 2, Thành phố H. (có m t). 2. Cháu Nguyễn T n P, sinh ngày: 26/02/2019 là con ruột của bị hại Nguyễn Nhật T. Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị iễm L, sinh năm: 1994; trú tại: p Thôi Môi, xã Hòa Khánh Đông, huyện Đ, tỉnh L là mẹ ruột của cháu P. (có m t). Người làm chứng: 1. Bà Lại Thị Cẩm , sinh năm: 1995; trú tại: Tổ , Khu phố 8, thị tr n Vĩnh n, huyện V, tỉnh Đ; ch ở: 5 / 0/6 Tổ , Khu phố , phường Hiệp Thành, Quận 2, Thành phố H. (v ng m t). 2. Bà Lại Thị Cẩm N, sinh năm: 1990; trú tại: Tổ , Khu phố 8, thị tr n Vĩnh n, huyện V, tỉnh Đ; ch ở: 5 / 0/6 Tổ , Khu phố , phường Hiệp Thành, Quận 2, Thành phố H. (v ng m t). 3. Bà Giang Thị Tuyết M, sinh năm: 1967; trú tại: / Khu phố , phường Đ, Quận 2, Thành phố H; ch ở: 6/
p M Hòa , xã Trung Chánh, huyện M, Thành phố H. (có m t). 4. Ông Phạm Văn B, sinh năm: 1957; trú tại: / Khu phố , phường Đn, Quận 2, Thành phố H; ch ở: 6/
p M Hòa , xã Trung Chánh, huyện M, Thành phố H. (có m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 0/6/20 , Võ Trần Kim X tổ chức ăn uống tại nhà số
2 Khu phố 2, phường Đ, Quận 2, cùng tham dự có Phạm Thanh
Q, Trần Hoàng Q và một số người bạn khác của X. Đến khoảng 2 giờ 00 cùng ngày, Phạm Thanh Q gọi điện thoại cho Nguyễn Nhật T để đòi nợ nhưng không được nên bực tức. Sau đó Quân chở Q về nhà, trên đường đi, Q nói Quân chở về nhà của mẹ ruột tại số 6/
p M Hòa , xã Trung Chánh, huyện M để l y một cây kéo bằng s t dài khoảng 25cm, mũi nhọn, cạnh s c và 01 con dao Thái Lan dài khoảng 25cm gi u dưới vạt áo đang m c nói tiếp tục đi tìm T. Đến khoảng 0 giờ ngày 0 / /20 , Q chở Q đến nhà số 5 / 0/06 tổ , Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 2. Tại đây, Q xuống xe, dùng chân đạp bung cánh cửa cổng, đi vào bên trong rồi tiếp tục đạp bể kính của cánh cửa chính, trên tay cầm dao và kéo giơ ra phía trước, cãi nhau qua lại với T. Một lúc sau, T cầm theo một con dao bằng kim loại dài khoảng 28 cm, bước ra mở cửa, Q bước vào trong nhà, T dùng dao chém liên tục hai nhát, trúng vào phần đỉnh đầu và m t của Q. Q liền dùng chân đạp vào người T, làm T té ngã xuống nền nhà. Q lao tới ngồi lên bụng của T, dùng tay trái đè lên tay phải đang cầm dao của T, l y đầu gối chân phải đè tay trái của T xuống nền nhà, rồi Q cầm dao và kéo trên tay phải, đâm một nhát trúng đầu, một nhát trúng ngực và một nhát trúng vào cổ của T. Sau đó, Q đi ra ngoài nhờ Quân đang đứng ở cổng chở đi c p cứu. Khi Q đang c p cứu tại phòng khám Thành Tâm tại số 5 B Bùi Văn Ngữ, phường Hiệp Thành, Quận 2 thì bị Công an đến mời về trụ sở làm việc.
Nguyễn Nhật T được Lại Thị Cẩm là bạn gái đưa đi c p cứu, nhưng đã chết trên đường đến bệnh viện.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Thanh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định pháp y số 1000- /KLGĐ-PY ngày 29/7/2019 của Phòng K thuật hình sự Công an Thành phố H đối với tử thi Nguyễn Nhật T kết luận: nguyên nhân chết là do “m t máu không hồi phục do vết thương đâm đứt động mạch cảnh chung phải và thủng tĩnh mạch chủ trên”.
Bản Kết luận giám định pháp y bổ sung số 1843- /KLGĐBS – PY ngày 02/01/2020, của Phòng K thuật hình sự Công an Thành phố H, kết luận: cây dao và kéo là vật s c nhọn đều có thể gây ra được các vết thương trên người của Nguyễn Nhật T.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 26 /KLĐG ngày 0 / /20 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 2 kết luận: 02 t m kính cửa nhà hình chữ nhật trị giá 600.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0 /TgT. ngày 0 / 2/20 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố H kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Thành Q là 13%.
Vật chứng vụ án: Thu giữ tại hiện trường và của bị cáo: 0 xe g n máy biển số 52Y-3274; 0 con dao bằng kim loại lưỡi dao dài khoảng 25cm, cán dao bằng g dài khoảng 2cm; 0 con dao bằng kim loại lưỡi dao dài khoảng cm, cán dao bằng g dài khoảng 0cm; 0 áo thun màu xám, không cổ, tay ng n trên áo có chữ Castrol; 0 quần lửng vải Kaki màu xám, lưng quần màu xanh có chữ BKYA; 0 áo thun tay ng n màu tím có dòng chữ Have Fun; 0 quần đùi hoa lá nhiều màu; 04 mẫu gạc; 0 mảnh kính bị vỡ, không rõ hình dáng; 0 điện thoại di động Nokia màu đen; 0 điện thoại di động hiệu Samsung.
Về trách nhiệm dân sự: Phía gia đình Phạm Thanh Q đã h trợ chi phí mai táng số tiền 0 triệu đồng; đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Nhật T không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 151/CT-VKS-P2 ngày 08/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H đã truy tố bị cáo Phạm Thanh Q về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 23 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thanh Q thừa nhận hành vi phạm tội tương tự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H. Bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Giết người” là đúng, không oan sai. Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Nhật T trình bày: Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Bá H (cha ruột của bị hại) xác định ông đã nhận được số tiền 0.000.000 đồng do gia đình bị cáo Q giao nhằm h trợ chi phí mai táng. Ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác. Bà Huỳnh Thị Châm (mẹ ruột của bị hại) nêu ý kiến không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường khoản nào về phần dân sự. Bà Nguyễn Thị iễm L (là vợ của bị hại, đồng thời là đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn T n P) yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường tổn th t tinh thần cho bà là 00.000.000 đồng và phải c p dưỡng nuôi cháu Nguyễn T n P, sinh ngày 26/02/2019 là con ruột của bị hại Nguyễn Nhật T, m i tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu P đủ 8 tuổi. Về phần hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo theo đúng pháp luật, đúng người, đúng tội. Bị cáo Phạm Thanh Q thể hiện thái độ hối hận, mong muốn gia đình người bị hại tha thứ l i lầm của mình, xin được khoan hồng để sớm có điều kiện làm lại cuộc đời, bị cáo đồng ý bồi thường tiền tổn th t tinh thần là 00.000.000 đồng và khoản chi phí c p dưỡng nuôi con của bị hại như đề nghị của bà Nguyễn Thị iễm L. Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Thanh Q về tội “Giết người”. Đề nghị hội đồng xét xử: p dụng điểm n khoản Điều 2 ; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Phạm Thanh Q từ 6 năm đến 18 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường tổn th t tinh thần cho bà Nguyễn Thị iễm L là 00.000.000 đồng và có nghĩa vụ c p dưỡng nuôi con của bị hại là cháu Nguyễn T n P, sinh ngày 26/02/2019, m i tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày thời điểm bị hại T chết (0 / /20 ) cho đến khi cháu P đủ 8 tuổi. Đồng thời xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Luật sư Lê Ngọc Lam Đ bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh Q cho rằng bị cáo không phạm tội giết người. Đề nghị xem xét hành vi của bị cáo là tự vệ, giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Bị cáo không cố ý giết bị hại từ trước. Trong vụ việc này thì th y rằng, khi bị cáo Q đạp cổng vào sân nhà bị hại đang ở, nếu bị hại T chủ động tránh né không xu t hiện cãi nhau với bị cáo mà gọi điện báo chính quyền địa phương đến can thiệp giải quyết thì hậu quả x u đã không xảy ra. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải; đã tác động để gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn; do bức xúc bị hại vay tiền nhưng không trả nên mới phạm tội. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 51, Điều 5 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức th p nh t của khung hình phạt, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa l i lầm, trở về với gia đình và hòa nhập xã hội. Về trách nhiệm dân sự thì đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường tổn th t tinh thần cho bà L là 00.000.000 đồng và c p dưỡng nuôi con của bị hại m i tháng 2.000.000 đồng cho đến khi đủ 8 tuổi.
Bị cáo Phạm Thanh Q thống nh t với lời bào chữa của luật sư, không tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến tranh luận.
Tranh luận lại ý kiến của vị luật sư, đại diện Viện kiểm sát cho rằng: Không có cơ sở để ch p nhận lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo Q, bởi vì bị cáo Q đã chủ động mang theo dao và kéo có mũi nhọn đến g p bị hại. Bị cáo đạp cửa cổng, đạp vỡ cửa kính nhà và xông vào nhà gây g đâm chém bị hại. Tuy có l i của bị hại là có gây thương tích cho bị cáo nhưng trong vụ án này bị cáo đã chủ động từ trước. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nh t mà bị cáo tước đi tính mạng bị hại. Không có cơ sở thay đổi tội danh theo đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Giết người” thuộc trường hợp có tính ch t côn đồ. Không có cơ sở áp dụng Điều 5 Bộ luật hình sự như đề nghị của vị Luật sư. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Phạm Thanh Q gửi lời xin l i đến gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh Q cũng như đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến ho c khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh Q không có ý kiến về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản l y lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. o đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Phạm Thanh Q đã khai nhận toàn bộ những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được xác định qua bản tự khai, tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; lời khai của người làm chứng; bản ảnh, dữ liệu camera, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định pháp y… nên đã có đủ căn cứ xác định: o mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền với Nguyễn Nhật T nên vào khoảng 0 giờ 00 phút ngày 0 / /20 , Phạm Thanh Q mang theo dao, kéo đến nhà số 5 / 0/06 Tổ , Khu phố , phường Hiệp Thành, Quận 2, Thành phố H, đập phá cửa nhà và đánh chửi nhau với T. T đã dùng dao chém Q 02 nhát vào đầu vào m t gây thương tích là %. Q dùng dao và kéo đâm 0 nhát vào đầu, ngực và cổ của T, làm T tử vong trên đường đi c p cứu do m t máu không hồi phục, vết thương đâm đứt động mạch cảnh chung phải và thủng tĩnh mạch chủ trên. (Theo Kết luận giám định pháp y số 1000-/KLGĐ-PY ngày 29/7/2019 của Phòng K thuật hình sự Công an Thành phố H). Với các hành vi như trên, xét đã có cơ sở để tuyên bố bị cáo Phạm Thanh Q phạm vào tội “Giết người” theo điểm n khoản Điều 2 của Bộ luật hình sự năm 20 5, sửa đổi bổ sung năm 20 như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đ c biệt nguy hiểm, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Xu t phát từ nguyên nhân nhỏ nh t, bực tức việc vay mượn tiền giữa bị cáo và bị hại trước đó mà bị cáo đã dùng dao và kéo có mũi nhọn đâm 03 nhát vào vùng đầu, ngực và cổ là vùng trọng yếu trên cơ thể người bị hại, làm bị hại tử vong do m t máu không hồi phục, vết thương đâm đứt động mạch cảnh chung phải và thủng tĩnh mạch chủ trên. Bị cáo biết và buộc phải biết rằng việc cầm dao và kéo có mũi nhọn đâm vào cơ thể bị hại s dẫn đến chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện cho th y bị cáo r t hung hãn, coi thường tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, cố ý tước đoạt tính mạng của người bị hại, phạm tội có tính ch t côn đồ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây tang thương m t mát cho gia đình nạn nhân, gây hoang mang cho dư luận, ảnh hưởng x u đến trật tự trị an, an toàn xã hội. o đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm kh c đối với bị cáo theo tội danh và hình phạt quy định tại điểm n khoản Điều 2 của Bộ luật hình sự năm 20 5, sửa đổi bổ sung năm 20 thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Lập luận trên cũng là cơ cơ sở để không ch p nhận quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo chỉ tự vệ, giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét th y: nguyên nhân xảy ra vụ án có một phần l i từ phía bị hại khi đã có những lời nói qua điện thoại với thái độ thách thức, khiến bị cáo nóng giận, do đang nhậu, trong người đã có bia rượu nên bị cáo không kiềm chế được và đã tìm đến nhà tước đi tính mạng của bị hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện viện kiểm sát và vị luật sư bào chữa cho bị cáo đã đề cập như: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; đã tác động để gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại và được phía gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Với các tình tiết trên, xét có thể áp dụng điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 20 giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với Trần Hoàng Quân đã chứng kiến việc Phạm Thanh Q tức giận sau khi nghe điện thoại nói chuyện với bị hại Nguyễn Nhật T, có hành vi chở Q từ nơi ăn nhậu (nhà Xuyên) về nhà Q, sau đó chở Q đến nhà Nguyễn Nhật T, Quân chứng kiến sự việc và sau đó trực tiếp chở Q rời khỏi hiện trường. Quá trình điều tra, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã nhiều lần ra Quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H xem xét vai trò, tính ch t, mức độ và hành vi của Trần Hoàng Quân có d u hiệu giúp sức về m t tinh thần, đã h trợ tích cực và thúc đẩy bị cáo Phạm Thanh Q thực hiện hành vi phạm tội, việc bị hại chết tuy Quân không mong muốn nhưng đã có l i cố ý gián tiếp và bỏ m c hậu quả xảy ra. Đề nghị xem xét hành vi của Trần Hoàng Q có d u hiệu đồng phạm với Phạm Thanh Q về tội “Giết người”. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H vẫn giữ nguyên quan điểm cho rằng Trần Hoàng Q không biết Q có cầm theo dao, kéo để đâm T và cũng không tham gia cùng đánh nhau nên không có d u hiệu đồng phạm với bị cáo Q. o giới hạn của việc xét xử theo quy định tại Điều 2 8 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết về tội danh và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phạm Thanh Q trong phạm vi cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H đã truy tố.
Đồng thời, Hội đồng xét xử xét th y cần kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra, làm rõ đối với Trần Hoàng Q về d u hiệu đồng phạm với bị cáo Phạm Thanh Q về tội “Giết người”, nếu đủ căn cứ thì xử lý hình sự Trần Hoàng Quân theo quy định của pháp luật
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Bá Hoàng xác nhận đã nhận được số tiền 30.000.000 đồng tiền chi phí mai táng. Các đại diện hợp pháp của bị hại gồm: ông Nguyễn Bá H, bà Huỳnh Thị C không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường thêm các khoản về chi phí mai táng, tổn th t tinh thần. Riêng bà Nguyễn Thị iễm (là vợ của bị hại, đồng thời là đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn T n P) yêu cầu bị cáo Phạm Thanh Q bồi thường tổn th t tinh thần cho bà L là 00.000.000 đồng và phải c p dưỡng nuôi cháu Nguyễn T n P, sinh ngày 26/02/2019 là con ruột của bị hại Nguyễn Nhật T, m i tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày bị hại Nguyễn Nhật T chết (0 / /20 ) cho đến khi cháu Phát đủ 8 tuổi. Bị cáo Phạm Thanh Q đồng ý bồi thường tổn th t tinh thần và c p dưỡng theo mức của bà L đề nghị, xét đây là sự tự nguyện của các bên không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo phải bồi thường các khoản trên. [6] Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều Bộ luật hình sự; Điều 06 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với con dao bằng kim loại, áo thun, quần lửng, quần đùi; mẫu gạc, các mảnh kính bị vỡ là những vật dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen là tài sản của bị hại Nguyễn Nhật T nên trả lại cho bà Huỳnh Thị C đại diện nhận lại.
- Đối với 0 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của bị cáo Phạm Thanh Q là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với chiếc xe g n máy biển số 52Y- 2 , số máy VKV1P50FMG – H50
, số khung RMK CG5UM6K 50
thu giữ của Trần Hoàng Quân. Qua xác minh xe này do Phạm Thị N, sinh năm 65; địa chỉ: / /8 Khu phố 2, phường Đ, Quận 2, Thành phố H. Bà N khai tháng 2/2008 do thiếu tiền nên đã đem xe đi cầm đồ không nhớ tên tại gần cầu vượt Quang Trung. o không có tiền chuộc lại xe nên đã không đến l y lại, để cho tiệm cầm đồ toàn quyền định đoạt, bà không có ý kiến gì. Trần Hoàng Q khai nhận xe g n máy này là của ông Trần Trạng T là cha của Q mua từ năm 20 nhưng chưa làm thủ tục sang tên, xe được Q sử dụng để làm phương tiện đi lại. o chiếc xe g n máy này xác định được thuộc quyền quản lý hợp pháp của Trần Hoàng Q, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thanh Q, cũng không phải là tài sản do phạm tội mà có nên trả lại cho Trần Hoàng Q. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm n khoản Điều 2 ; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Phạm Thanh Q 8 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2019. Căn cứ Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 5 Bộ luật dân sự năm 20 5 buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị iễm L số tiền 00.000.000 (một trăm triệu) đồng là tiền tổn th t về m t tinh thần và c p dưỡng nuôi cháu Nguyễn T n P, sinh ngày 26/02/2019 là con ruột của bị hại Nguyễn Nhật T, m i tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng kể từ ngày bị hại Nguyễn Nhật T chết (0 / /20 ) cho đến khi cháu Nguyễn T n P đủ 8 tuổi. Khoản tiền c p dưỡng giao cho bà Nguyễn Thị iễm L là đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn T n P nhận.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 20 5.
Căn cứ Điều 7 Bộ luật hình sự năm 20 5, sửa đổi bổ sung năm 20 ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 20 5:
- Tịch thu tiêu hủy: 0 (một) con dao bằng kim loại lưỡi dao dài khoảng 25cm, cán dao bằng g dài khoảng 2cm; 0 (một) con dao bằng kim loại lưỡi dao dài khoảng cm, cán dao bằng g dài khoảng 0cm; 0 (một) áo thun màu xám, không cổ, tay ng n trên áo có chữ Castrol; 0 (một) cái quần lửng vải Kaki màu xám, lưng quần màu xanh có chữ BKY ; 0 (một) áo thun tay ng n màu tím có dòng chữ Have Fun; 0 (một) cái quần đùi hoa lá nhiều màu; 0 (bốn) mẫu gạc; 0 (ba) mảnh kính bị vỡ, không rõ hình dáng.
- Trả lại cho bà Huỳnh Thị C đại diện nhận lại: 0 (một) điện thoại di động Nokia màu đen, số Imei 5 6 05 25 6 bên trong có 0 sim điện thoại Viettel.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh Q: 0 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 562020 250 6, có thẻ sim Mobiphone (không kiểm tra được imei do không có nguồn điện, S/N: R58G 0E P ).
- Trả lại cho ông Trần Hoàng Q: 01 xe hai bánh g n máy, nhãn hiệu Honda, số loại: không xác định, biển số 5 Y2-3274, số khung: RMKDCG5UM6K 509334, số máy: VKV1P50FMG-H509344.
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2020/308 ngày 15/6/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra, làm rõ đối với Trần Hoàng Q về d u hiệu đồng phạm với bị cáo Phạm Thanh Q về tội “Giết người”, nếu đủ căn cứ thì xử lý hình sự Trần Hoàng Q theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội buộc bị cáo Phạm Thanh Q phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.300.000 (năm triệu ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 20 (sau đây gọi t t là Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều a, Điều b và Điều Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 0 Luật Thi hành án dân sự. Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - T N C p cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - Cục TH -DS; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (2) - Phòng THA-HS; (1) - Phòng PC 53-CA TP.HCM; (1) - UBN nơi bị cáo cư trú; (2) - Sở tư pháp; (1) - Đương sự, Luật sư; (6) - Lưu, hình sự, hồ sơ (P/25) (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Nguyễn |