vanban.org

Bản án 138/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chung Hải D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chung Hải D 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/5/2021. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chung Hải Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chung Hải D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2021/HS-ST
Ngày: 27-10-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Trọng Tâm

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 174/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 586/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chung Hải D, sinh ngày 20/01/1995; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 53/D6, đường L, khóm 4, phường 4, thành phố C, tỉnh C .; chỗ ở: Số 53/D6, đường L, khóm 4, phường 4, thành phố C, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chung Văn X và bà Nguyễn Thị Mỹ C; vợ, con: Chưa có; tiền án: 01 lần, ngày 16/10/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt; tiền sự: 01 lần, ngày 02/3/2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố Cà Mau ra quyết định áp dụng giáo dục tại xã phường thị trấn với thời hạn 03 tháng, đã chấp hành; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2021, chuyển tạm giam từ 14/5/2021 đến nay (Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Anh Trần Thanh Tr, sinh năm 2001.

Nơi cư trú: Số 01/5, đường L, khóm 3, phường 4, thành phố C, tỉnh C (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 20/11/2018, Trần Thanh Tr điều khiển xe mô tô biển số 69C1 – 37165 chở Phạm Mạnh Q lưu thông trên đường Lâm Thành Mậu về hướng chợ phường 4, thành phố Cà Mau, khi đến đoạn đường khóm 4, phường 4, thành phố Cà Mau thì thấy bị cáo Chung Hải D và Võ Trung Ngh đứng ngoài lộ nên Q nói với Tr “giờ này còn đứng giữa lộ” và Tr nói lại “dân phường 4 đó đừng có đụng”, nhưng bị cáo Đ và Võ Trung Ngh nghe nhầm “thằng nào đứng giữa lộ, làm nó luôn không”, thì bị cáo Đ chụp áo của Q nhưng không được nên kêu Ngh vào phòng trọ của Đ lấy xe mô tô hiệu Wave 100 biển số 69B1-30790 chở bị cáo Đ đuổi theo đánh Tr và Q. Trên đường đi, bị cáo Đ rút dây thắt lưng của Ngh làm hung khí, khi cả hai đuổi đến trước cổng trường Phan Bội Châu thuộc khóm 3, phường 4, thành phố Cà Mau thì đuổi kịp Tr và Q, lúc này Ngh cúp đầu xe của Tr và Q làm ngã xe. Đ xuống xe cầm dây thắt lưng đánh liên tiếp nhiều cái vào đầu, mặt, tay của Tr gây thương tích, còn Ngh đánh Q bằng tay thì được mọi người can ngăn nên Đ và Ngh lên xe bỏ về, còn Tr được Q đưa đi bệnh viện. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày Phạm Mạnh Q đến Công an phường 4, thành phố Cà Mau trình báo sự việc và Chung Hải D đến giao nộp 01 dây thắt lưng phần đầu bằng kim loại, phần thân bằng da có chữ Abereombie & Fitch chiều dài 1,11m và xe mô tô biển số 69B1 – 30790.

Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt truy nã vào ngày 11/5/2021.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 308 ngày 24/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế là 17,98% làm tròn số 18%.

Tại bản Cáo trạng số: 173/KSĐT-TA, ngày 01 tháng 9 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo Chung Hải D về tội “Cố ý gây thương tích ” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luậ hình sự. Tuyên bố Chung Hải D phạm tội “Cố ý gây thương tích ”, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nên không đề cập xử lý.

Đối với hành vi của Võ Trung Ngh đã được xử tại bản án hình sự sơ thẩm số: 95/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với Phạm Mạnh Q, do Q không bị thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự đối với bị cáo Đ nên không đề cập xử lý.

- Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ ngày 20/11/2018, tại khóm 3, phường 4, thành phố Cà Mau, Chung Hải D và Võ Trung Ngh sử dụng dây thắt lưng có phần đầu bằng kim loại đánh gây thương tích cho Trần Thanh Tr với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 18%.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước nhưng bị cáo lại dùng dây thắt lưng có đầu bằng kim loại, là hung kh nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 18%, điều này thể hiện bản chất côn đồ trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại và gây mất trật tự tại địa bàn thành phố Cà Mau và gây ra dư luận không tốt ở địa phương. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo không đầu thú mà bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt theo quyết định truy nã.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” vào năm 2015.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng với bị cáo Ngh đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo được giáo dục, cải sửa lỗi lầm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Do đó, Viện kiểm sát đề nghị quyết định hình phạt đối với bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra.

Đối với hành vi của Võ Trung Ngh đã được xử tại bản án hình sự số 95/2019/HS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với Phạm Mạnh Q không bị thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Thanh Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tr là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chung Hải D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chung Hải D 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/5/2021.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ