vanban.org

Bản án 138/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 24/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam đối với ông Đào Cư A.

Buộc ông Đào Cư A phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, tính đến ngày 30/11/2021 là: 4.876.637.799 đồng, trong đó 1.650.000.000 đồng tiền nợ gốc, 1.179.186.399 đồng tiền nợ lãi trong hạn và 2.047.451.400 đồng tiền nợ lãi quá hạn. Trường hợp ông Đào Cư A không thanh toán hoặc thanh t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam đối với ông Đào Cư A.
  • Căn cứ chính? Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

=====o0o=====
Bản án số: 138/2021/DS - ST
Ngày: 30/11/2021
“V/v tranh chấp HĐ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Trọng Hiển

Các hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn T Thủy

: ông Nguyễn Phúc Tuấn

Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn T Giao Linh - Cán bộ Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông: ông Nguyễn Ngọc Sơn – Kiểm sát viên.

Hồi 08 giờ 30 ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 36/2021/TLST-DS ngày 13/4/2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXX-ST ngày 21 tháng 10 năm 2021và quyết định hoãn phiên tòa số 67/2021/QĐH- DS ngày 11/11/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam;

Trụ sở: số 191 Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Hồ Hùng Anh – Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lương Văn Phong – chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (theo giấy ủy quyền số 206.03/2021/UQ-TCB ngày 04/5/2021) có mặt.

- Bị đơn: ông Đào Cư A, sinh năm 1956; HKTT và trú tại: tổ X, phường P, quận Hà Đông, TP.Hà Nội.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn T, sinh năm 1975

+ Anh Đào Cư O, sinh năm 1994 Cùng trú tại: số X ngõ 1Z tổ U B, phường P, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

(ông A, bà Thi, anh O đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/01/2021 và các lời khai tiếp theo, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 17/01/2011, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) và ông Đào Cư A ký Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 2948/HĐTD/TH-TN/TCB-HTY-NGG và Khế ước nhận nợ, cam kết trả nợ số 2948 ngày 18/01/2011, với nội dung cụ thể như sau:

Số tiền vay: 1.800.000.000 đồng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 120 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng: 18/01/2021; Lãi suất vay: Lãi suất linh hoạt như sau: Lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 30/6/2011 là: 18,5%/năm đối với các khoản vay bằng VNĐ của Bên nhận nợ. Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Bên nhận nợ cho thời gian tiếp theo đối với các khoản vay của Bên nhận nợ bằng VND: Lãi suất được điều chính 03 tháng/1 lần vào các ngày 02/1, 01/4, 01/7, 01/10 và bằng Lãi suất huy động tiết kiệm thưởng 12 tháng loại trả sau của Techcombank tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 6%/năm, nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được quy định bởi Ngân hàng tại từng thời kỳ theo từng đối tượng khách hàng, tương ứng thời điểm thay đổi lãi suất.

Tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của ông Đào Cư A tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 11, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô T, hình thức sử dụng: riêng; Thời hạn sử dụng: lâu dài; Địa chỉ: Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (nay là số 14 ngõ 1, tổ 17 Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 163031, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH-00476, do UBND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/09/2010 cho ông Đào Cư A; Hợp đồng thể chấp tài sản số công chứng 297 quyển 01.2011 ngày 17/01/2011 tại Văn phòng công chứng số 7 thành phố Hà Nội. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ngày 17/01/2011.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đào Cư A mới trả được 150.000.000 đồng tiền nợ gốc và 297.181.849 đồng tiền lãi.

Nay, Techcombank khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết:

Buộc ông Đào Cư A phải thanh toán trả cho Techcombank số tiền tính đến ngày 30/11/2021 là: nợ gốc: 1.650.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.179.186.399 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.047.451.400 đồng, Lãi phạt: 2.319.057.930 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng 18.000.000 đồng, Tổng nợ: 7.213.695.729 đồng và các khoản nợ lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số: 2948/HĐTD/TH-TN/TCB-HTY-NGG ngày 17/01/2011 kể từ ngày 01/12/2021 đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Đào Cư A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án hoặc Văn phòng thừa phát lại tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 11, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô T, hình thức sử dụng: riêng; thời hạn sử dụng: lâu dài; tại địa chỉ: Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 163031, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH-00476, do UBND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/09/2010 cho ông Đào Cư A;

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đào Cư A đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đào Cư A vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, trong suốt quá trình giải quyết vụ án không đến tòa làm việc lần nào, nên không lấy được lời khai và không tiến hành A giải được.

Tại phiên tòa: nguyên đơn rút toàn bộ phần lãi phạt tính đến ngày 30/11/2021 là 2.319.057.930 đồng, cùng toàn bộ phần lãi phạt phát sinh từ ngày 01/12/2021 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ và rút khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 18.000.000 đồng, các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu: Quá trình thực hiện và giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ Thương Việt Nam được sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp - Công ty cổ phần, đăng ký lần đầu ngày 03/9/1993, đăng ký thay đổi lần thứ 51 ngày 12/11/2019, nội dung hoạt động: nhận gửi tiền, cấp tín dụng…

Như vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam được thành lập hợp pháp, đúng quy định của pháp luật. Việc ông Đào Cư A ký kết Hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng là đúng quy định của pháp luật

Tại phiên tòa, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không lý do, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về quan hệ pháp luật:

Tranh chấp phát sinh giữa các bên là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn trong vụ án có hộ khẩu và đang cư trú tại địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Toà án nhân dân quận Hà Đông thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương, Hội đồng xét xử, xét thấy:

Ngày 17/01/2011, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) và ông Đào Cư A ký Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 2948/HĐTD/TH-TN/TCB-HTY-NGG và Khế ước nhận nợ, cam kết trả nợ số 2948 ngày 18/01/2011, với nội dung: ông A vay: 1.800.000.000 đồng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 120 tháng, ngày đến hạn trả nợ cuối cùng 18/01/2021; Lãi suất linh hoạt như sau: Lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 30/6/2011 là: 18,5%/năm. Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay thời gian tiếp theo, Lãi suất được điều chính 03 tháng/1 lần và bằng Lãi suất huy động tiết kiệm thưởng 12 tháng loại trả sau của Techcombank tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 6%/năm, nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được quy định bởi Ngân hàng tại từng thời kỳ theo từng đối tượng khách hàng, tương ứng thời điểm thay đổi lãi suất.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 11; Địa chỉ: Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (nay là số 14 ngõ 1, tổ 17 Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 163031, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH-00476, do UBND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/09/2010 đưng tên ông Đào Cư A; Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đào Cư A mới trả được 150.000.000 đồng tiền nợ gốc và 297.181.849 đồng tiền lãi.

Nay, Techcombank khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết:

Buộc ông Đào Cư A phải thanh toán cho Techcombank số tiền tính đến ngày 30/11/2021 là: nợ gốc: 1.650.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.179.186.399 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.047.451.400 đồng, Lãi phạt: 2.319.057.930 đồng, tiền phạt vi phạm hợp đồng 18.000.000 đồng, Tổng nợ: 7.213.695.729 đồng và các khoản nợ lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số: 2948/HĐTD/TH-TN/TCB-HTY-NGG ngày 17/01/2011 kể từ ngày 01/12/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Đào Cư A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án hoặc Văn phòng thừa phát lại tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 11, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô T, hình thức sử dụng: riêng; thời hạn sử dụng: lâu dài; tại địa chỉ: Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 163031, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH-00476, do UBND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/09/2010 đứng tên ông Đào Cư A;

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đào Cư A đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đào Cư A vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Xét thấy, Hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam - chi nhánh Hà Tây với ông Đào Cư A là hoàn toàn tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp quy định pháp luật, là hợp đồng tín dụng hợp pháp nên có hiệu lực đối với các bên tham gia. Việc ông Đào Cư A không trả được nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn như đã thoả thuận là vi phạm hợp đồng. Nay, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam yêu cầu ông Đào Cư A phải thanh toán khoản nợ gốc và các khoản lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng là đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Xét, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, thấy: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hà Tây với ông Đào Cư A được bảo đảm bằng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 11; Địa chỉ: Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (nay là số 14 ngõ 1, tổ 17 Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 163031, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH-00476, do UBND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/09/2010 đứng tên ông Đào Cư A. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Do đó, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất này là hợp pháp nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Nay, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên nếu bị đơn không trả nợ hoặc trả không đủ số nợ.

Về cách tính lãi, qua đối chiếu nhận thấy: Lãi suất tại thời điểm cho vay của hợp đồng Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 2948/HĐTD/TH-TN/TCB-HTY-NGG ngày 17/01/2011là 18,5%/năm, lãi suất từ khi cho vay đến nay được điều chỉnh 17 lần, lãi suất trong hạn tại thời điểm hiện nay là 15,8%/năm. Cách tính lãi trong hạn, lãi quá hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với yêu cầu phạt chậm trả lãi tính đến ngày 30/11/2021 là 2.319.057.930 đồng, cùng toàn bộ phần lãi phạt phát sinh từ ngày 01/12/2021 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ và khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 18.000.000 đồng, tại phiên Tòa ngân hàng xin rút. Xét thấy, việc xin rút là hoàn toàn tự nguyện, không làm xấu đi tình trạng của các đương sự khác, nên được chấp nhận.

Như vậy, buộc ông Đào Cư A phải trả cho Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam tính đến ngày 30/11/2021 là: 4.876.637.799 đồng, bao gồm 1.650.000.000 đồng nợ gốc, 1.179.186.399 đồng tiền nợ lãi trong hạn và 2.047.451.400 đồng tiền nợ lãi quá hạn.

Về án phí: ông Đào Cư A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam số tiền tạm ứng đã nộp. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244; Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 471, Điều 474; Điều 476 Bộ luật dân sự 2005.

- Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng

- Điều 5, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Tßa ¸n ngµy 30/12/2016.

- Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam đối với ông Đào Cư A.

2. Buộc ông Đào Cư A phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, tính đến ngày 30/11/2021 là: 4.876.637.799 đồng, trong đó 1.650.000.000 đồng tiền nợ gốc, 1.179.186.399 đồng tiền nợ lãi trong hạn và 2.047.451.400 đồng tiền nợ lãi quá hạn.

Trường hợp ông Đào Cư A không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 11; Địa chỉ: Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (nay là số 14 ngõ 1, tổ 17 Bắc Lãm, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 163031, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH-00476, do UBND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cấp ngày 01/09/2010 đứng tên ông Đào Cư A, để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.

Kể từ ngày kế tiếp sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/12/2021), người phải thi hành án tiếp tục chịu lãi suất đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số: 2948/HĐTD/TH-TN/TCB-HTY-NGG ngày 17/01/2011, cho đến khi trả xong nợ gốc.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đào Cư A đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đào Cư A vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, về việc rút 2.319.057.930 đồng tiền phạt chậm trả lãi và 18.000.000 đòng tiền phạt vi phạm hợp đồng .

4. Về án phí: ông Đào Cư A phải chịu 112.876.637 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại trả Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam 56.839.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010040 ngày 13/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm niết.

Cỡ chữ