vanban.org

Bản án 138/2021/DS-PT — Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 30/06/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Lê Thanh L - Ngô Lý Ng"
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Đất đai; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 256 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NH DÂN
T NH T NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 138/2021/DS-PT
Ngày 30- 6- 2021
V/V tranh chấp đòi lại tài sản
và quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN T NH T NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Dung

Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ

Bà Đặng Thị Đồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Th y Vân Th

Tòa án nhân dân t nh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh T Ninh: Bà Nguyễn Thị Bé Thi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 01 tháng 4, ngày 25 và 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Tây Ninh ét ử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 342/2020/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản và quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 85/2020/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Tòa án Nh dân huyện TC t nh Tây Ninh bị háng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra ét ử phúc thẩm số: 39/2021/QĐPT-DS ngày 01 tháng 02 năm 2021 giữa các đ ơng sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Thanh L, sinh năm 1982; địa ch c tr : ph ờng LH, thị xã HT, t nh Tây Ninh, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đinh Thái H – Luật s Công ty luật Bảo Nguyên Minh thuộc Đoàn Luật s t nh Tây Ninh; địa ch : thành phố TN, t nh Tây Ninh, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Lý Ng sinh năm 1960 và bà Phạm Thị Lan Ph, sinh năm 1962; cùng địa ch c tr : ph ờng LH, thị xã HT, t nh Tây Ninh, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của ông Ngô Lý Ng và bà Phạm Thị Lan Ph: Ông Trần Văn L1 sinh năm 1945; địa ch c tr : Ấp NH, xã BN, huyện DMC, t nh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 22-3-2016 và ngày 19-12-2017).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Lê Thanh Ph1, sinh năm 1961; địa ch c tr : ph ờng LH, thị xã HT, t nh Tây Ninh, vắng mặt.

3.2 Bà Phạm Thị A sinh năm 1960; địa ch c tr : ph ờng LH, thị xã HT, t nh Tây Ninh, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị A: Anh Phạm Hồng Ph2 sinh năm 1992; địa ch c tr : thành phố TN, t nh Tây Ninh, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp Ph1 của ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị A: Ông Đinh Thái H – Luật s Công ty luật Bảo Nguyên Minh thuộc Đoàn Luật s t nh Tây Ninh, có mặt.

3.3. Ông Cao Văn H1 sinh năm 1954; địa ch c tr : xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

3.4. Bà Nguyễn Thị H2 sinh năm 1959; địa ch c tr : xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

3.5. Ông Lê Hùng Nh sinh năm 1971; địa ch c tr : ph ờng LH, thị xã HT, t nh Tây Ninh có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

3.6. Chị Thái Thị Ngọc Th sinh năm 1986; địa ch c tr : Sph ờng LH thị ã HT t nh Tây Ninh.

Người đại diện hợp Ph1 của chị Thái Thị Ngọc Th: Anh Lê Thanh L, sinh năm 1982; địa ch c tr : ph ờng LH, thị xã HT, t nh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 06-8-2018), có mặt.

+ Chị Lê H ơng Th1 sinh năm 1983 địa ch c tr : ph ờng LH, thị xã HT, t nh Tây Ninh, vắng mặt.

Người đại diện hợp Ph1 của chị Lê Hương Th1: Chị Nguyễn Thị Loan Th2 sinh năm 1979; địa ch c tr : thành phố TN, t nh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 09-10-2018) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người kháng cáo:

- Ông Trần Văn L1 là ng ời đại diện theo ủy quyền của bị đơn.

- Ông Lê Thanh Ph1 bà Phạm Thị A là ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn, anh Lê Thanh L trình bày:

Do cha và mẹ ruột của anh L là ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị A có nợ tiền của ông Ngô L Ng và bà Phạm Thị Lan Ph nên khi ông Ng, bà Ph gây áp lực buộc cha mẹ anh L phải giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ng, bà Ph để trừ nợ trong các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Ph1, bà A giao cho ông Ng, bà Ph có 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh L đứng tên. Trên thực tế ông Ng, bà Ph đang sử dụng phần diện tích 60.170,6 m2 thuộc quyền sử dụng của anh L; sau hi phát hiện ông Ng, bà Lan Ph sử dụng đất hông hợp Ph1 nên anh L đã yêu cầu ông Ng, bà Ph trả lại đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nh ng ông Ng, bà Ph không đồng nên anh L hởi iện yêu cầu ông Ngô L Ng bà Phạm Thị Lan Ph trả tài sản cụ thể:

Phần diện tích đất qua đo đạc thực tế là 60.170,6 m2 thuộc thửa 41 một phần các thửa 42 43 5 6 7 39 40 47 114 tờ bản đồ số 92 và một phần thửa 85 tờ bản đồ số 76 nay thuộc một phần thửa 17 tờ bản đồ 37 toạ lạc tại ấp Hội Thanh ã TH, huyện TC t nh Tây Ninh. Trên đất anh L có trồng cây sao su từ năm 2005 phần đất anh L yêu cầu hoàn trả có tứ cận:

H ớng Đông giáp các thửa 14 19 tờ bản đồ 37;

H ớng Tây giáp các thửa 13 18 tờ bản đồ 37;

H ớng Nam giáp 01 phần thửa 17 tờ bản đồ 37;

H ớng Bắc giáp các thửa 10 11 tờ bản đồ 37;

Vào ngày 30-5-2017 anh Lê Thanh L có hởi iện bổ sung: Yêu cầu ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph trả cho anh L 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm giấy số H01330 diện tích 13.498 m2 thửa số 41; giấy số H01331 diện tích 9.211m2 thửa số 42 và giấy số H01332 diện tích 13.161m2 thửa số 43 cùng tờ bản đồ số 92 do UBND huyện TC cấp ngày 11-6-2007 cho anh Lê Thanh L đứng tên.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Thanh L có khởi iện yêu cầu ông Ng và bà Ph bồi th ờng số tiền phát sinh từ việc hông đ ợc thu hoạch mủ cao su là 1.490.000.000 đồng và tiền thiệt hại do cây cao su bị h hại là 985.000.000 đồng tổng cộng là 2.475.000.000 đồng. Nay anh L r t một phần yêu cầu hởi iện ch yêu cầu ông Ng và bà Lan Ph bồi th ờng số tiền phát sinh từ việc hông đ ợc thu hoạch mủ cao su từ năm 2010 cho đến năm 2012 với số tiền là 430.000.000 đồng. Ngoài ra anh L hông có yêu cầu hởi iện nào khác.

* Bị đơn ông Ngô Lý Ng và người đại diện hợp Ph1 của ông Ng là ông Trần Văn L1 trình bày:

Do cha mẹ anh L là ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị An có nợ vợ chồng ông Ng, bà Ph số tiền 6.300.000.000 đồng nên ngày 16-8-2009 vợ chồng ông Ng, bà Lan Ph có nhận chuyển nh ợng quyền sử dụng đất từ bà A, ông Ph1 với diện tích 18 ha để cấn trừ số tiền còn nợ, giá đất chuyển nh ợng là 400.000.000 đồng/01 ha thành tiền là 7.200.000.000 đồng; vợ chồng ông Ng, bà Lan Ph đã giao thêm số tiền chuyển nh ợng đất 900.000.000 đồng cho ông Ph1, bà A. Khi chuyển nh ợng đất các bên có làm giấy viết tay thể hiện nội dung chuyển nh ợng đất và đến phòng công chứng làm thủ tục chuyển nh ợng đ ợc phần diện tích 12 ha. Đối với diện tích đất do Lê Thanh L đứng tên, do anh L hông đồng làm thủ tục chuyển nh ợng mà yêu cầu bà A cho đất nơi hác thì anh L mới đồng

tên nên vẫn ch a làm hợp đồng chuyển nh ợng đ ợc.

Nay anh L yêu cầu vợ chồng ông Ng, bà Ph hoàn trả lại phần diện tích đất 60.170,6 m2 trên đất có trồng cao su; tiền thu hoạch mủ cao su 430.000.000 đồng và 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh L đứng tên thì vợ chồng ông Ng, bà Ph hông đồng vì ông Ng, bà Ph đã nhận chuyển nh ợng đất của bà A, ông Ph1. Nếu anh L cho rằng đây là đất của anh L thì bà A, ông Ph1 phải chịu trách nhiệm với anh L.

Nếu yêu cầu của anh L đ ợc chấp nhận ông Ng, bà Ph phải trả đất cho anh L thì ông Ng, bà Ph yêu cầu ông Ph1, bà A phải trả lại số tiền chuyển nh ợng đất t ơng đ ơng giá trị phần đất trả lại cho anh L đồng thời ông Ph1, bà A phải bồi th ờng cho ông Ng, bà Ph các thiệt hại phát sinh từ việc chuyển nh ợng đất hông thành theo quy định của Ph1 luật. Nếu yêu cầu hởi iện của anh L có cơ sở chấp nhận thì bị đơn cũng ch trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh L đứng tên cho ông Ph1, bà A vì bị đơn nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông Ph1, bà A.

Trong quá trình giải quyết vụ án vào ngày 09-6-2017 ông Ng, bà Ph có đơn hởi iện phản tố: Yêu cầu anh L bồi th ờng số tiền mất thu nhập do tài sản tranh chấp bị ê biên diện tích 2 8 ha 336.000.000 đồng/năm 5 năm = 1.680.000.000 đồng và vào ngày 11-6-2017 ông Ng, bà Ph có đơn bổ sung yêu cầu anh L trả lại tiền đổ đất 600.000.000 đồng; tiền bón phân năm 2012 là 18.000.000 đồng; tiền đặt cống chịu lực là 6.000.000 đồng. Ngày 04-8-2017 ông Ng, bà Ph có đơn bổ sung yêu cầu anh L trả lại tiền công đào m ơng th1t n ớc là 30.000.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án ông Ng, bà Ph có đơn r t toàn bộ yêu cầu phản tố trên. Ý iến r t đơn phản tố và yêu cầu bồi th ờng thiệt hại là do bị đơn hoàn toàn tự nguyện.

* Bị đơn bà Phạm Thị Lan Ph và người đại diện hợp Ph1 của bà Phạm Thị Lan Ph trình bày:

Bà Ph là vợ của ông Ngô L Ng. Qua iến trình bày của ông Ng bà thừa nhận là đ ng và hông bổ sung gì thêm. Do đất vợ chồng bà đã nhận chuyển nh ợng của bà A, ông Ph1 nên hông đồng trả lại cho anh L.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Phạm Thị An và người đại diện hợp Ph1 của bà A là ông Ph2 trình bày:

Bà A và ông Ph1 là vợ chồng anh L là con của bà A, ông Ph1. Bà A thừa nhận vợ chồng bà có nợ tiền của ông Ng, bà Ph nên đồng giao đất ở Bàu Rã để trừ nợ nh ng ch giao tạm hi nào có tiền sẽ chuộc lại. Đồng thời bà có đ a cho ông Ng, bà Ph 08 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hông em lại nên đ a nhầm 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Lê Thanh L đứng tên. Hai bên đã làm thủ tục chuyển nh ợng hoảng 120.000 m2 nh ng diện tích thực tế ông Ng sử dụng bao nhiêu thì hông biết chính ác độ hoảng 180.000 m2. Riêng diện tích 60.170 6 m2, trên đất có trồng cao su là tài sản của anh L vợ chồng bà hông có quyền bán nên ông Ng, bà Ph trả lại cho L.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Ng, bà Ph hông có yêu cầu hởi iện độc L1 đối với ông Ph1, bà A liên quan đến yêu cầu bồi th ờng thiệt hại và hoàn trả lại số tiền của phần đất hông chuyển nh ợng đ ợc nên những iến của ông Ng, bà Ph liên quan đến yêu cầu bồi th ờng thiệt hại và hoàn trả lại số tiền của phần đất hông chuyển nh ợng đ ợc ch đ ợc em là iến nên ông Ph1, bà A yêu cầu Tòa án hông đ ợc giải quyết iến của ông Ng, bà Lan Ph trong cùng vụ án này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lê Thanh Ph1 và người đại diện hợp Ph1 của ông Ph1 là ông Ph2 trình bày: Ông Ph1 là chồng của bà A. Qua lời trình bày của bà A ông thừa nhận là đ ng hông bổ sung gì thêm. Vợ chồng ông hông có chuyển nh ợng đất của anh Lê Thanh L cho ông Ng, bà Ph việc L đòi lại đất là quyền của anh L ông hông có iến gì.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Thái Thị Ngọc Th và người đại diện hợp Ph1 của chị Th là anh L trình bày: Chị Th là vợ của anh Lê Thanh L. Khi đi làm thủ tục chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ở phòng công chứng Gò Dầu thì bà Ph có rủ chị đi theo sau đó có êu chị tên vào hợp đồng chuyển nh ợng nh ng hông biết để làm gì. Nay anh L tranh chấp đất với bà Ph, ông Ng do anh L quyết định và chị hông có iến.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Lê Hương Th1 và người đại diện hợp Ph1 của chị Th1 trình bày: Việc chuyển nh ợng đất do ông Ph1, bà A thực hiện cùng ông Ng và bà Ph hông có liên quan đến chị nên chị hông có iến. Việc chị tên vào Hợp đồng chuyển nh ợng đất là do ông Ph1, bà A yêu cầu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Cao Văn H1 trình bày: Hiện tại ông đang sử dụng phần đất diện tích 14.313m2, thửa số 7 tờ bản đồ số 92 tại ã TH, huyện TC t nh Tây Ninh giáp với đất anh Lê Thanh L đang tranh chấp với ông Ngô L Ng. Qua ác định của Phòng Tài nguyên và Môi tr ờng huyện TC thì trong diện tích đất này cấp trùng vào đất đang tranh chấp diện tích 3.893 4m2. Nếu cấp sai thì UBND huyện TC điều ch nh lại cho phù hợp ông hông có iến gì. Đối với tranh chấp giữa anh L và ông Ng, bà Ph thì ông hông có iến.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Hiện tại bà đang sử dụng phần đất diện tích 1.446 m2, thửa số 6 tờ bản đồ số 92 và diện tích 16.960 m2, thửa số 39 tờ bản đồ số 92 tại ã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh. Các phần đất này giáp ranh với đất anh Lê Thanh L đang tranh chấp với ông Ngô L Ng. Qua ác định của Phòng Tài nguyên và Môi tr ờng huyện TC thì tại thửa số 39 tờ bản đồ số 92 diện tích 16.960 m2 cấp trùng vào đất đang tranh chấp 3.985 9 m2 thửa số 6 tờ bản đồ số 92 diện tích 1.446 m2 cấp trùng vào đất đang tranh chấp 565 6 m2. Nếu cấp hông chính xác thì UBND huyện TC điều ch nh lại cho phù hợp bà hông có iến gì. Đối với tranh chấp giữa anh L và ông Ng, bà Lan Ph thì bà hông có iến.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lê Hùng Nh trình bày: Hiện tại ông đang sử dụng diện tích đất 86.000 m2 tại thửa số 114 tờ bản đồ số 92 tại ã TH, huyện TC t nh Tây Ninh giáp ranh với đất anh L đang tranh chấp với ông Ng. Qua xác định của Phòng Tài nguyên và Môi tr ờng huyện TC thì trong diện tích đất này cấp trùng vào đất đang tranh chấp 2.600 4 m2, việc này ông hông biết nh ng nếu có cấp trùng thì UBND huyện TC tự điều ch nh ông hông có iến gì. Đối với tranh chấp giữa anh L và ông Ng, bà Lan Ph thì ông hông có iến.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp Ph1 của anh L, bà A, ông Ph1: Ông Đinh Thái H trình bày:

Bảo vệ quyền lợi cho anh L: Giấy chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ghi ngày 16- 8- 2009 nội dung ch ghi chuyển nh ợng đất Bàu Rã hông ghi vị trí tứ cận tiếp giáp ai hông ghi chuyển nh ợng mà ghi cấn trừ nợ. Không có sự đồng của anh L về việc sang nh ợng 6.170 6 m2 cho ông Ng, bà Ph nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu hởi iện của anh L.

Bảo vệ quyền lợi cho ông Ph1, bà A: Giấy chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ghi ngày 16- 8- 2009 hông thể hiện có phần đất của anh L, nếu vô hiện thì phải vô hiệu toàn bộ hông ch diện tích 6.170 6 m2. Nếu trừ diện tích đất của anh L tranh chấp 6.170,6 m2 thì diện tích thực tế ông Ng, bà Ph hiện sử dụng bao nhiêu cũng hông biết chính xác, ông Ph1, bà A hông nhận thêm 900.000.000 đồng của ông Ng, bà Ph thì căn cứ nào để buộc ông Ph1, bà A trả đất tính theo giá trị cho ông Ng, bà Ph giá 40.000 đồng/m2. Giải quyết yêu cầu của ông Ng, bà Ph nh ng hông cho là đơn hởi iện phản tố và thụ l vụ án là vi phạm nghiệm trọng Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự và làm mất quyền tranh tụng của ông Ph1, bà A. Đề nghị Hội đồng ét ử chấp nhận yêu cầu của anh L hông chấp nhận háng cáo của ông Ng, bà Ph về giải quyết H2 quả.

Tại Bản án d n s sơ thẩm s 85/2020/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện TC, t nh T y Ninh đ quy t định:

Căn cứ các Điều 256 608 688 Bộ luật Dân sự; các Điều 121 122, 127, 135, 137 Bộ luật dân sự năm 2005 Điều 105, 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 144; Điều 147 Điều 157 165 Điều 217 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện tranh chấp đòi lại tài sản và quyền sử dụng đất của anh Lê Thanh L đối với ông Ngô L Ng bà Phạm Thị Lan Ph và buộc ông Ngô L Ng bà Phạm Thị Lan Ph có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lê Thanh L các tài sản gồm:

a/ Phần đất có diện tích 60.170,6 m2 thuộc thửa 41 một phần các thửa 42 43 5 6 7 39 40 47 114 tờ bản đồ số 92 và một phần thửa 85 tờ bản đồ số 76 nay thuộc một phần thửa 17 tờ bản đồ 37 toạ lạc tại ấp Hội Thanh ã TH, huyện TC t nh Tây Ninh. (Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 07A/TĐĐC-2012 ngày 22/3/2012 của Công ty TNHH trắc địa và bản đồ Miền Nam). Trên đất có trồng cây cao su trên 15 năm tuổi đ ợc các bên thống nhất số l ợng là 3.000 cây; Đất có tứ cận:

H ớng Đông giáp các thửa 14 19 tờ bản đồ 37;

H ớng Tây giáp các thửa 13 18 tờ bản đồ 37;

H ớng Nam giáp 01 phần thửa 17 tờ bản đồ 37;

H ớng Bắc giáp các thửa 10 11 tờ bản đồ 37

b/ Buộc ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lê Thanh L 03 (ba) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01330 diện tích 13.498 m2 thửa số 41 tờ bản đồ số 92; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01331 diện tích 9.211 m2 thửa số 42 tờ bản đồ số 92; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01332 diện tích 13.161 m2 thửa số 43 tờ bản đồ số 92 do UBND huyện TC cấp ngày 11-6-2007 cho anh Lê Thanh L.

Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của anh Lê Thanh L đối với ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph về yêu cầu đòi tài sản là tiền thu hoạch mủ cao su và buộc ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph cùng có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lê Thanh L số tiền 430.000.000 (bốn trăm ba m ơi triệu) đồng.

Kể từ ngày anh Lê Thanh L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Ngô L Ng bà Phạm Thị Lan Ph hông chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng ông Ng, bà Ph còn phải trả cho anh L số tiền lãi đối với số tiền chậm trả t ơng ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Đình ch một phần yêu cầu hởi iện của anh Lê Thanh L đối với yêu cầu ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph trả số tiền bồi th ờng cây cao su bị h hại 985.000.000 đồng tiền thu hoạch mủ cao su 1.490.000.000 đồng tổng cộng là 2.475.000.000 (hai t bốn trăm bảy m ơi lăm triệu) đồng.

3. Đình ch phần yêu cầu phản tố của ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph đối với yêu cầu anh Lê Thanh L bồi th ờng thiệt hại do tài sản tranh chấp bị kê biên số tiền là 1.680.000.000 (một t sáu trăm tám m ơi triệu) đồng.

4. Đình ch một phần yêu cầu phản tố của ông Ngô Lý Ng đối với anh Lê Thanh L liên quan số tiền bỏ phân bón đổ đất, tiền đặt cống, tiền đào m ơng tổng cộng là 654.000.000 (sáu trăm năm m ơi bốn triệu) đồng.

5. Buộc ông Lê Thanh Ph1 bà Phạm Thị A có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Ngô Lý Ng và bà Phạm Thị Lan Ph giá trị phần đất diện tích 60.170 6 m2 với số tiền là 2.406.824.000 (hai t bốn trăm lẻ sáu triệu tám trăm hai m ơi bốn nghìn) đồng.

6. Buộc ông Lê Thanh Ph1 bà Phạm Thị A có nghĩa vụ bồi th ờng cho ông Ngô Lý Ng và bà Phạm Thị Lan Ph số tiền 713.779.500 (bảy trăm m ời ba triệu bảy trăm bảy m ơi chín nghìn năm trăm) đồng.

Kể từ ngày ông Ngô Lý Ng và bà Phạm Thị Lan Ph có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị An hông chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị An còn phải trả cho ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph số tiền lãi đối với số tiền chậm trả t ơng ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

7. Quyết định áp dụng biện Ph1 hẩn cấp tạm thời số 03/2012/QĐ-BPKCTT ngày 22- 6 - 2012 của Tòa án Nh dân huyện TC t nh Tây Ninh tiếp tục có hiệu lực cho đến hi có Quyết định hác thay thế.

Ngoài ra bản án quyết định về án phí; nghĩa vụ chậm trả quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền háng cáo.

Ngày 07-11-2020 ông Trần Văn L1 là ng ời đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Ngô L Ng bà Phạm Thị Lan Ph có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn.

Ngày 20-11-2020, ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị A có đơn háng cáo đề nghị cấp Ph2 thẩm sửa bản án sơ thẩm hông giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu hi hông có yêu cầu.

Tại phiên tòa ph c thẩm ng ời háng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo.

Phát bi u của ki m sát viên tại phiên tòa ph c thẩm:

- Về tố tụng: Hội đồng ét ử Th

Tòa án tuân thủ đ ng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ l đến hi giải quyết vụ án. Các đ ơng sự chấp hành đầy đủ các quy định Ph1 luật trong quá trình tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hông thuộc quyền quản l sử dụng của ông Ph1, bà A và chị Th1 việc giấy chuyển nh ợng cho ông Ng là trái quy định Ph1 luật hơn nữa việc chuyển nh ợng này hông có sự đồng của anh L. Ông Ng, bà Ph thừa nhận đang giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh L đứng tên nên trả đất và giấy cho anh L là có căn cứ. Tuy nhiên tại phiên tòa các đ ơng sự đều thừa nhận hi giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm ch a tiến hành đo đạc tổng thể do đó ch a làm rõ đ ợc vị trí đất của anh L mặt hác hi chuyển nh ợng các bên hông đo đạc mà ch ranh và giao đất. Cấp sơ thẩm ch a thu thập đầy đủ mà tuyên buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn diện tích 60.170 6m2 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ch a có cơ sở vững chắc.

Ông Ph1, bà A chuyển nh ợng tài sản hông thuộc quyền quản l của mình cho ông Ng, bà Ph nh ng ông bà lại chấp nhận yêu cầu hởi iện của anh L nh vậy sẽ ảnh h ởng đến quyền và lợi ích hợp Ph1 của ông Ng, bà Ph đây là quan hệ tranh chấp độc L1. Tuy nhiên ông Ng, bà Ph cũng hông đồng nhận tiền bồi th ờng từ ông Ph1, bà A cũng hông hởi iện yêu cầu giải quyết cấp sơ thẩm ch a thụ l lại đ a vào giải quyết H2 quả giao dịch vô hiệu là hông có căn cứ vi phạm quyền tự định đoạt của các đ ơng sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Căn cứ hoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng ét ử hủy bản án số 85/2020/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Tòa án Nh dân huyện TC t nh Tây Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đ ợc xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Loan Th2 là ng ời đại diện hợp Ph1 của chị Lê H ơng Th1; ông Cao Văn H1 bà Nguyễn Thị H2 và ông Lê Hùng Nh là ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn in ét ử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng ét ử tiến hành ét ử vắng mặt đối với chị Th2, ông H1, bà H2 và ông Nh.

Tòa án nhân dân huyện TC ét ử vụ án ngày 27-10-2020, ông L1 là ng ời đại diện hợp Ph1 cho ông Ng, bà Ph có tham gia phiên tòa sơ thẩm và nộp đơn háng cáo vào ngày 07- 11- 2020. Anh Thiện là ng ời đại diện hợp Ph1 cho ông Ph1, bà A vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm và đ ợc tống đạt bản án vào ngày 13- 11- 2020. Ngày 20-11-2020, ông Ph1, bà A kháng cáo còn trong thời hạn nên các háng cáo trên đều hợp Ph1.

Xét kháng cáo của bà Ph, ông Ng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với yêu cầu trả 60.170 6m2 cho anh L: Phần diện tích 60.170 6 m2 thuộc thửa 41 một phần các thửa 42 43 5 6 7 39 40 47 114 tờ bản đồ số 92 và một phần thửa 85 tờ bản đồ số 76 nay thuộc một phần thửa 17 tờ bản đồ 37 toạ lạc tại ấp Hội Thanh ã TH, huyện TC t nh Tây Ninh trên đất có trồng 3.000 cây cao su mà anh L hởi iện yêu cầu ông Ng, bà Ph hoàn trả trong đó có một phần diện tích đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh Lê Thanh L đứng tên và một phần diện tích ch a đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do anh L nhận chuyển nh ợng hợp Ph1 từ ông Nguyễn Văn Trạch vào năm 2005. Anh L đã quản l sử dụng, trồng cây cao su trên đất và hông có ai tranh chấp nên đủ cơ sở ác định diện tích đất 60.170 6 m2 trên đất có trồng cao su nêu trên thuộc quyền sở hữu của anh Lê Thanh L. Ông Ng, bà Ph cho rằng diện tích đất này bà A, ông Ph1 đã chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Ng, bà Ph theo giấy sang nh ợng L1 ngày 16-8-2009 nh ng trong giấy chuyển nh ợng đất ch ghi 18 mẫu đất Bàu Rã hông ác định tứ cận cũng hông thể hiện đất do ai đứng tên. Mặt hác đây là tài sản của anh L nh ng việc chuyển nh ợng này hông có sự đồng của anh L nên việc ông Ng, bà Ph chiếm hữu sử dụng diện tích đất 60.170 6 m2 này là không hợp Ph1. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Ng, bà Ph trả lại diện tích đất nêu trên cho anh L là có căn cứ.

Đối với yêu cầu trả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Bà A giao 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01330; H01331 và H01332 do UBND huyện TC cấp ngày 11-6-2007 do anh Lê Thanh L đứng tên cho ông Ng, bà Ph mà hông có sự đồng của anh L. Ông Ng, bà Ph cũng thừa nhận có giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Lê Thanh L. Việc ông Ng, bà Ph giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh L là không hợp Ph1. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Ng, bà Ph trả lại 03 giấy đất nêu trên cho anh L là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của anh L buộc ông Ng, bà Ph phải trả cho anh L số tiền 430.000.000 đồng mất thu nhập từ việc khai khai thác mủ cao su từ ngày 25-9-2009 đến 26-7-2012. Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc anh L yêu cầu tính thời gian ông Ng khai thác mủ cao su từ ngày 25-9-2009 đến ngày 26-7-2012 là 25 tháng nh ng anh hông cung cấp đ ợc chứng cứ chứng minh thời gian khai thác từ ngày 25-9-2009. Ông Ng, bà Ph thừa nhận sau khi nhận diện tích đất và cao su nói trên vào tháng 8-2009, vợ chồng ông bón phân, chăm sóc và bắt đầu khai thác mủ từ ngày 15-4-2010 đến ngày 22-6-2012 thì ng ng nên Tòa án cấp sơ thẩm ác định thời gian ông Ng, bà Ph khai thác mủ cao su 15-4-2010 đến ngày 22-6-2012 tổng cộng 21 tháng (01 năm ch khai thác 9 tháng) là có căn cứ.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Công văn số 11/CSTB-KT ngày 06-5-2016 của Công ty cao su Tân Biên cung cấp: Cao su mở cạo từ năm 2009 – 2012 t ơng ứng với năm cạo thứ 1 đến năm cạo thứ 4 là: Năm cạo thứ 1: 0,7 tấn/ha; năm cạo thứ 2: 0,9 tấn/ha; năm cạo thứ 3: 1,1 tấn/ha; năm cạo thứ 4: 1,4 tấn/ha và khảo sát giá mủ của Công ty TNHH SX-TM-DV-XNK Kim Huỳnh năm 2010 giá thấp nhất là 42.500 đồng/kg, cao nhất là 81.000 đồng/ g; bình quân giá là 61.750 đồng/kg; Năm 2011 giá thấp nhất là 55.000 đồng/kg, cao nhất là 90.000 đồng/ g; bình quân giá là 72.500 đồng/kg; Năm 2012 giá 39.000 đồng/kg là có căn cứ. Tuy nhiên cấp sơ thẩm tính số tiền ch a chính ác cấp Ph2 thẩm tính lại nh sau:

Năm 2010 (01 năm hai thác 09 tháng t ơng ứng 01 năm cạo) thu đ ợc 333.450.000 đồng (0 9 tấn/ha/năm 6 ha 61.750 đồng)

Năm 2011 (01 năm khai thác 09 tháng t ơng ứng 01 năm cạo) thu đ ợc 478.500.000 đồng (1 1 tấn/ha/năm 6 ha 72.500 đồng)

Năm 2012 ( hai thác 03 tháng) thu đ ợc 109.203.000 đồng (1 4 tấn/ha/năm : 9 tháng 3 tháng 6 ha 30.000 đồng)

Tổng cộng tiền hai thác mủ thu đ ợc là 921.153.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm ác định sau hi nhận đất và cao su vào tháng 8-2009 vợ chồng ông Ng đã bón phân chăm sóc cây cao su nên chi phí đầu t đ ợc tính 04 năm từ năm 2009 đến năm 2012 là có căn cứ. Chi phí đ ợc tính nh sau:

- Phân bón 10.000.000 đồng/ha 06 ha = 60.000.000 đồng/năm 04 năm = 240.000.000 đồng.

- Chi phí khai thác: Công cạo mủ 3.600.000 đồng/1.200 cây/tháng (xen 2 mỗi ngày cạo 600 cây) tranh chấp 3.000 cây. Công cạo mủ 3.000 cây/tháng = 9.000.000 đồng/ tháng 23 tháng (mỗi năm cạo mủ 9 tháng và th ởng 01 tháng = 10 tháng x 2năm (2010, 2011) = 20 tháng; năm 2012 là 03 tháng)) = 207.000.000 đồng.

Tổng cộng chi phí đầu t và hai thác mủ là 447.000.000 đồng.

Số tiền thu đ ợc từ hai thác mủ là 921.153.000 đồng trừ tiền chi phí đầu t công hai thác là 447.000.000 đồng còn lại lợi nhuận thu đ ợc là 474.153.000 đồng. Anh L ch yêu cầu ông Ng, bà Ph trả lại số tiền thu hoạch cao su số tiền 430.000.000 đồng ít hơn số tiền lợi nhuận thu đ ợc là 474.153.000 đồng nên Hội đồng ét ử ch buộc ông Ng, bà Ph trả cho anh L số tiền thu lợi từ việc hai thác mủ cao su là 430.000.000 (bốn trăm ba m ơi triệu) đồng là có căn cứ và phù hợp.

Xét yêu cầu háng cáo của bà A, ông Ph1 thấy rằng:

Giấy sang nh ợng quyền sử dụng đất giữa bà A với bà Ph xác L1 vào ngày 16-8-2009 có thể hiện diện tích chuyển nh ợng là 18 mẫu đất Bàu Rã nh ng thực tế diện tích đất ông Ph1, bà A đã giao cho ông Ng, bà Ph bao nhiêu hông thể hiện rõ trong hồ sơ do cấp sơ thẩm hông đo đạc toàn bộ diện tích đất thực tế mà ông Ph1, bà A đã giao cho ông Ng, bà Ph. Việc đo đạc toàn bộ diện tích đất thực tế ông Ng, bà Ph đã nhận là bao nhiêu so với diện tích đất hai bên thỏa thuận chuyển nh ợng ban đầu là 18 ha (180.000m2) nếu còn thiếu bao nhiêu mới có căn cứ buộc ông Ph1, bà A trả cho ông Ng, bà Ph diện tích còn thiếu cấp sơ thẩm căn cứ vào việc buộc ông Ng, bà Ph trả lại cho anh L diện 60.170,6m2 để buộc ông Ph1, bà A trả cho ông Ng, bà Ph là hông đ ng bởi vì việc đòi lại tài sản 60.170,6m2 giữa anh L với ông Ng, bà Ph thì các chủ thể và quan hệ Ph1 luật hác với việc buộc ông Ph1, bà A trả cho ông Ng, bà Ph.

Cấp sơ thẩm cũng hông thu thập hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất có công chứng đã sang tên cho ông Ng, bà Ph 120.000m2 nh các bên trình bày để biết diện tích đất cụ thể ông Ph1, bà A còn phải giao cho Ng, bà Ph là bao nhiêu. Vì nếu đã giao 120.000m2 mà cấp sơ thẩm buộc ông Ph1, bà A trả cho ông Ng, bà Ph diện tích 60.170,6m2 là nhiều hơn 180.000m2 là hông đ ng vì các bên ch thỏa thuận chuyển nh ợng 180.000m2.

Cấp sơ thẩm hông nhận định và làm rõ số tiền 900.000.000 đồng ông Ng, bà Ph có giao cho ông Ph1, bà A ch a mà vẫn ác định nghĩa vụ hoàn trả của ông Ph1, bà A cho ông Ng, bà Ph là 40.000 đồng/m2 là không có căn cứ , bởi vì theo giấy sang nh ợng quyền sử dụng đất giữa bà A với bà Ph xác L1 vào ngày 16-8-2009 có thể hiện diện tích chuyển nh ợng là 18 mẫu đất Bàu Rã để trả những phần nợ của bà Ph là 6.300.000.000đ nh vậy trung bình ch 350.000.000 đồng/ha (t ơng đ ơng 35.000 đồng/m2 nh ng cấp sơ thẩm lại buộc ông Ph1, bà A có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Ngô L Ng và bà Phạm Thị Lan Ph số tiền đã nhận từ việc chuyển nh ợng đất phần diện tích 60.170,6 m2 40.000 đồng/m2 với số tiền 2.406.824.000 đồng.

Ông Ng, bà Ph có yêu cầu ông Ph1, bà A trả lại số tiền chuyển nh ợng đất t ơng đ ơng giá trị phần trả lại cho anh L và bồi th ờng cho ông Ng, bà Ph và các thiệt hại phát sinh từ việc chuyển nh ợng đất không thành. Cấp sơ thẩm giải quyết nh ng hông yêu cầu ông Ng, bà Ph hởi iện và thụ l là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Từ những phân tích nhận định trên cấp Ph2 thẩm hông hắc phục nên hủy một phần bản án sơ thẩm đối với việc buộc ông Ph1, bà A trả cho ông Ng, bà Ph giá trị phần đất diện tích 60.170 6 m2 với số tiền là 2.406.824.000 đồng và bồi th ờng cho ông Ng và bà Lan Ph số tiền 713.779.500 đồng. Giao cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Xét đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Tây Ninh hủy toàn bộ bản án sơ thẩm Hội đồng ét ử thấy rằng: Anh L hởi iện yêu cầu ông Ng, bà Ph trả lại diện tích 60.170 6m2 hi giải quyết tranh chấp Tòa án cấp sơ thẩm đã đo đạc thẩm định và ác định rõ diện tích tranh chấp. Cụ thể: Qua ết quả đo đạc của của Công ty TNHH Trắc địa và Bản đồ Miền Nam thể hiện phần đất anh L yêu cầu ông Ng, bà Lan Ph hoàn trả có diện tích 60.170 6 m2 thuộc thửa 41 một phần các thửa 42 43 5 6 7 39 40 47 114 tờ bản đồ số 92 và một phần thửa 85 tờ bản đồ số 76 nay thuộc một phần thửa 17 tờ bản đồ 37 toạ lạc tại ấp Hội Thanh ã TH, huyện TC t nh Tây Ninh. Đối chiếu bản đồ địa chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện diện tích phần đất anh L đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ch có diện tích một phần các thửa 42 43 và thửa 41 tờ bản đồ 92 nằm trong hiện trạng đất anh L yêu cầu ông Ng, bà Lan Ph hoàn trả riêng phần diện tích còn lại ch a đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và do ông Cao Văn H1, bà Nguyễn Thị H2 và ông Lê Hùng Nh đăng sử dụng; qua làm việc thể hiện và ác định ông Cao Văn H1 bà Nguyễn Thị H2 và ông Lê Hùng Nh hông có sử dụng phần diện tích nào trong phần đất anh L hởi iện yêu cầu ông Ng, bà Lan Ph hoàn trả. Đối với việc Ủy ban Nh dân huyện TC cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích và vị trí sai so với phần đất đang quản l sử dụng thì ông H1, bà H2, ông Nh sẽ yêu cầu Ủy ban Nh dân huyện TC điều ch nh theo quy định Ph1 luật. Ngoài ra tại Công văn trả lời của Ủy ban Nh dân huyện TC ác định phần diện tích thuộc các thửa 5 6 7 39 40 47 114 tờ bản đồ số 92 và một phần thửa 85 tờ bản đồ số 76 thuộc đối t ợng đủ điều iện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nh vậy cấp sơ thẩm đã làm rõ vị trí đất tranh chấp của anh L diện tích 60.170 6m2 nên hông cần thiết phải hủy toàn bộ bản án mà ch hủy một phần bản án đối với yêu cầu của ông Ng, bà Ph đối với ông Ph1, bà A nh đã phân tích nêu trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo Bản án số 85/2020/DS-ST ngày 27-10-2020 của Tòa án Nh dân huyện TC thì ông Ph1, bà A phải chịu 32.551.000 đồng đối với yêu cầu của ông Ng, bà Ph trả lại số tiền chuyển nh ợng đất t ơng đ ơng giá trị phần đất trả lại cho anh L và bồi th ờng các thiệt hại phát sinh từ việc chuyển nh ợng đất hông thành. Do hủy một phần Bản án đối với yêu cầu trên của ông Ng, bà Ph nên nghĩa vụ chịu án phí đ ợc ác định lại hi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Ph1, bà A và một phần kháng cáo của ông Ng, bà Ph đ ợc chấp nhận nên ông Ph1 bà A và ông Ng bà Ph không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QU ẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận yêu cầu háng cáo của ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị An.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của ông Ngô Lý Ng và bà Phạm Thị Lan Ph.

Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 85/2020/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Toà án Nh dân huyện TC, t nh Tây Ninh đối với việc buộc ông Lê Thanh Ph1, bà Phạm Thị An trả cho ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph giá trị phần đất diện tích 60.170,6 m2 và bồi th ờng cho ông Ng và bà Ph số tiền 713.779.500 đồng. Giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

3. Không chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Lý Ng và bà Phạm Thị Lan Ph về việc hông đồng ý trả lại tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 6.170,6m2 và trả số tiền 430.000.000 (bốn trăm ba m ơi triệu) đồng thu hoạch mủ cho anh L.

4. Căn cứ các Điều 256 608 Điều 697 đến 702 của Bộ luật Dân sự 2005, Điều 688 của Bộ luật Dân sự 2015 Điều 105, 106 của Luật đất đai năm 2003; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

4.1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện tranh chấp đòi lại tài sản và quyền sử dụng đất của anh Lê Thanh L đối với ông Ngô L Ng bà Phạm Thị Lan Ph. Buộc ông Ngô L Ng bà Phạm Thị Lan Ph có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lê Thanh L các tài sản gồm:

Phần đất có diện tích 60.170 6 m2 thuộc thửa 41 một phần các thửa 42 43 5 6 7 39 40 47 114 tờ bản đồ số 92 và một phần thửa 85 tờ bản đồ số 76 nay thuộc một phần thửa 17 tờ bản đồ 37 toạ lạc tại ấp HTh, xã TH, huyện TC t nh Tây Ninh. (Kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 07A/TĐĐC-2012 ngày 22-3-2012 của Công ty TNHH Trắc địa và Bản đồ Miền Nam). Trên đất có trồng cây cao su trên 15 năm tuổi đ ợc các bên thống nhất số l ợng là 3.000 cây; Đất có tứ cận:

H ớng Đông giáp các thửa 14 19 tờ bản đồ 37;

H ớng Tây giáp các thửa 13 18 tờ bản đồ 37;

H ớng Nam giáp 01 phần thửa 17 tờ bản đồ 37;

H ớng Bắc giáp các thửa 10 11 tờ bản đồ 37

Buộc ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lê Thanh L 03 (ba) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01330 diện tích 13.498 m2 thửa số 41 tờ bản đồ số 92; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01331 diện tích 9.211 m2 thửa số 42 tờ bản đồ số 92; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01332 diện tích 13.161 m2 thửa số 43 tờ bản đồ số 92 do UBND huyện TC cấp ngày 11-6-2007 cho anh Lê Thanh L.

4.2. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của anh Lê Thanh L đối với ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph về yêu cầu đòi tài sản là tiền thu hoạch mủ cao su và buộc ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph trả cho anh Lê Thanh L số tiền 430.000.000 (bốn trăm ba m ơi triệu) đồng.

4.3. Kể từ ngày anh Lê Thanh L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph hông chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng ông Ng, bà Ph còn phải trả cho anh L số tiền lãi đối với số tiền chậm trả t ơng ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

4.4. Đình ch một phần yêu cầu hởi iện của anh Lê Thanh L đối với yêu cầu ông Ngô Lý Ng bà Phạm Thị Lan Ph trả số tiền bồi th ờng cây cao su bị h hại 985.000.000 đồng tiền thu hoạch mủ cao su 1.490.000.000 đồng tổng cộng là 2.475.000.000 (hai t bốn trăm bảy m ơi lăm triệu) đồng.

4.5. Đình ch phần yêu cầu phản tố của ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph đối với yêu cầu anh Lê Thanh L bồi th ờng thiệt hại do tài sản tranh chấp bị kê biên số tiền là 1.680.000.000 (một t sáu trăm tám m ơi triệu) đồng.

4.6. Đình ch một phần yêu cầu phản tố của ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph đối với anh Lê Thanh L liên quan số tiền bỏ phân bón đổ đất, tiền đặt cống, tiền đào m ơng, tổng cộng là 654.000.000 (sáu trăm năm m ơi bốn triệu) đồng.

4.7. Quyết định áp dụng biện Ph1 hẩn cấp tạm thời số 03/2012/QĐ-BPKCTT ngày 22-6-2012 của Tòa án Nh dân huyện TC t nh Tây Ninh tiếp tục có hiệu lực cho đến hi có Quyết định hác thay thế.

4.8. Về chi phí xem xét tại chỗ, chi phí đo đạc, chi phí định giá tài sản: Ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph phải chịu 13.580.000 (m ời ba triệu năm trăm tám m ơi nghìn) đồng. Ghi nhận anh L đã nộp tạm ứng 13.080.000 (m ời ba triệu hông trăm tám m ơi nghìn) đồng; ông Ng đã nộp tạm ứng 500.000 (năm trăm nghìn) đồng và chi phí xong nên buộc ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph trả lại cho anh Lê Thanh L số tiền 13.080.000 (m ời ba triệu hông trăm tám m ơi nghìn) đồng.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Lê Thanh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 55.043.000 (năm m ơi lăm triệu không trăm bốn m ơi ba nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001319 ngày 19-10-2011; số 0023798 ngày 26-12-2016 và biên lai số 0024291 ngày 30-5-2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC t nh Tây Ninh.

Ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph phải chịu 21.500.000 (hai m ơi mốt triệu năm trăm nghìn) đồng nh ng đ ợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Ng, bà Ph đã nộp 21.790.000 (hai m ơi mốt triệu bảy trăm chín m ơi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0024336 ngày 14-6-2017 và biên lai thu số 0024554 ngày 08-8-2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC. Hoàn trả lại cho ông Ng bà Lan Ph số tiền 290.000 đồng (hai trăm chín m ơi nghìn) đồng.

6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Ngô Lý Ng, bà Phạm Thị Lan Ph, Ông Lê Thanh Ph1 và bà Phạm Thị A không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông Ng, bà Ph 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 001335 ngày 11- 11- 2020 và ông Ph1, bà A 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001398 ngày 24-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, t nh Tây Ninh.

7. Tr ờng hợp bản án quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hàn án dân sự ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc c ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ