- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2020/HS-ST Ngày: 27 – 5 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đức;
Ông Nguyễn Minh Tâm;
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2020/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Hỏa Văn H., sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố Đ3, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoả Xuân T., sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị S., sinh năm 1954; bị cáo có chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2020 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim O., sinh năm 1989; tạm trú: khu phố B, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An, Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Minh C., sinh năm 2002, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hỏa Văn H. và bà Nguyễn Thị Kim O. có mối quan hệ là bạn bè quen biết nhau. Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/10/2019, H. đi đến phòng trọ của bà O. địa chỉ số 38L/8, khu phố Bình Đáng, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để tìm bà O. nhưng không gặp, H. nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong phòng để tìm tài sản lấy trộm, lúc này cửa phòng trọ đang khóa. H. đi đến cửa hàng vật liệu xây dựng gần đó mua 01 cưa sắt và 01 búa để phá khóa, khoảng 30 phút H. phá được ổ khóa, sau khi vào bên trong phòng trọ, H. đi lên gác và phát hiện trong túi áo khoác của bà O. có số tiền 20.000.000 đồng nên đã lấy cất vào ví rồi đi mua ổ khóa mới về khóa lại cửa phòng, đồng thời ném bỏ cưa sắt và búa vào thùng rác của khu trọ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày bà O. đi về phòng trọ nhìn thấy H. đứng trước cửa phòng, ổ khóa phòng trọ đã thay mới, qua kiểm tra tài sản bị mất số tiền 20.000.000 đồng, bà O. hỏi H. thì H. không thừa nhận đã lấy trộm số tiền trên. Đến ngày 20/10/2019 bà O. trình báo sự việc đến Cơ quan Công an, qua làm việc H. thừa nhận hành vi của mình và bị bắt giữ.
Tại bản cáo trạng số: 132/CT-VKS-TA ngày 28/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hoả Văn H. về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoả Văn H. mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Số tiền 20.000.000 đồng bị cáo Hỏa Văn H. chiếm đoạt của bị hại, bị cáo khai nhận đã tiêu xài hết nên không thu hồi được. Đối với 01 cưa sắt và 01 cái búa bị cáo H. sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.
+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại bà Nguyễn Thị Kim O..
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố đối với các bị cáo là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện. Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/10/2019, tại phòng trọ địa chỉ số 38L/8, khu phố Bình Đáng, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Hoả Văn H. có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng của bị hại Nguyễn Thị Kim O., đến ngày 06/01/2020 thì bị bắt giữ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, lười lao động nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần có mức án phù hợp với hành vi của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Số tiền 20.000.000 đồng bị cáo Hỏa Văn H. chiếm đoạt của bị hại, bị cáo khai nhận đã tiêu xài hết nên không thu hồi được. Đối với 01 cưa sắt và 01 cái búa bị cáo H. sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Kim O. yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
Quá trình điều tra, Hỏa Văn H. còn khai nhận vào khoảng tháng 12 năm 2019 đã lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu ASUS Gold tại phòng trọ của bà Hỏa Thị H. (chị ruột của H.) tại địa chỉ số 2A/11, khu phố Bình Đức 3, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. qua làm việc bà Hợi khai nhận không mất trộm tài sản, Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo truy tìm người bị hại và phát sóng trên Đài phát thành và truyền hình Bình Dương nhưng chưa xác định được bị hại, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 48 của Bộ luật Hình sự;
- Các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự;
- Các Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hoả Văn H. phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Hoả Văn H. 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Hoả Văn H. có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim O. số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
3. Về án phí:
Bị cáo Hoả Văn H. phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP.Thuận An; - Chi cục THADS TP.Thuận An; - Công an TP.Thuận An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |