vanban.org

Bản án 138/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 29/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với bà Nguyễn Mỹ D.

Buộc bà Nguyễn Mỹ D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng A (do Ngân hàng A Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền 4.892.000 đồng (Bốn triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng), trong đó vốn: 3.089.231 đồng, lãi tạm tính đến ngày 29/12/2020 là 1.802.769 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với bà Nguyễn Mỹ D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 138/2020/DS-ST
Ngày: 29/12/2020
V/v “T/c Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Đức Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Vân

2. Bà Nguyễn Thị Tường Vi

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 211/2020/TLST-DS, ngày 01 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 385/2020/QĐXXST-DS, ngày 18 tháng 11 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 293/2020/QĐST-DS ngày 08/12/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A.

Địa chỉ: Số 130 Phan Đăng Lưu, phường 3, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T - Chủ tịch Hồi đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Anh K – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng A – Chi nhánh An Giang.

Ông Lê Anh K ủy quyền cho ông Nguyễn Quốc V (Văn bản ủy quyền ngày 08/7/2020) – Có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: Bà Nguyễn Mỹ D , sinh năm 1983 – Vắng mặt lần 2 không có lý do.

Địa chỉ : Số 22/9, khóm Đ, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết ông Nguyễn Quốc V là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 27/10/2016, ngân hàng A – Chi nhánh An Giang có giải quyết cho bà Nguyễn Mỹ D vay tín chấp Hội liên hiệp Phụ nữ phường M số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 12%/năm, thời hạn 12 tháng, từ ngày 27/10/2016 ngày đến hạn 27/10/2017, với mục đích cho vay bổ sung vốn kinh doanh, nhưng đến nay bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên hồ sơ đã bị quá hạn, tính đến ngày 29/12/2020 bà Nguyễn Mỹ D còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 4.892.000đồng; trong đó nợ gốc là 3.089.231 đồng, tiền lãi là 1.802.769 đồng.

Do đó ngân hàng A yêu cầu bà Nguyễn Mỹ D phải trả cho Ngân hàng A do Ngân hàng A – Chi nhánh An Giang đại diện nhận số tiền tạm tính đến ngày 29/12/2020 là 4.892.000đồng đồng và số tiền lãi sẽ được tính tiếp tục cho đến ngày thực tế thanh toán đầy đủ số nợ vay.

* Bị đơn bà Nguyễn Mỹ D vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như cung cấp chứng cứ chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Việt đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vào ngày 20/11/2020, lý do bận công việc không thể tham gia phiên tòa. Bà D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa

Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến nay.

- Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 86 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Áp dụng các điều: 474, 476 Bộ luật Dân sự năm 2005

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A về việc yêu cầu bà Nguyễn Mỹ D trả số tiền nợ vay còn lại tạm tính đến ngày 29/12/2020 là 4.892.000 đồng. Trong đó, vốn gốc là 3.089.231 đồng và lãi trong hạn 230.769 đồng, lãi quá hạn là 1.572.000 đồng và lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền: Tranh chấp giữa Ngân hàng A với bà Nguyễn Mỹ D là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, mục đích vay tiêu dùng được xem là tranh chấp dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngân hàng A khởi kiện là nguyên đơn trong vụ án và xác định bà Nguyễn Mỹ D là bị đơn, phù hợp theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á do ông Võ Minh T – Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật, và người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Anh K – Giám đốc Ngân hàng A – Chi nhánh An Giang (theo giấy ủy quyền số 681/QĐ-DAB-PC ngày 25/6/2019); ông Lê Anh K ủy quyền lại cho ông Nguyễn Quốc V là nhân viên của Ngân hàng A tham gia tố tụng, thủ tục ủy quyền hợp lệ phù hợp với Điều 85, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được Tòa án chấp nhận ông V tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Mỹ D vắng mặt không lý do, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: 27/10/2016, ngân hàng A – Chi nhánh An Giang có giải quyết cho bà Nguyễn Mỹ D vay tín chấp Hội liên hiệp Phụ nữ phường M số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 12%/năm, thời hạn 12 tháng, từ ngày 27/10/2016 ngày đến hạn 27/10/2017, với mục đích cho vay bổ sung vốn kinh doanh. Nhưng đến nay bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên hồ sơ đã quá hạn, tính đến ngày 29/12/2020 số tiền bà Nguyễn Mỹ D còn nợ Ngân hàng là:

+ Nợ vốn: 3.089.231 đồng;

+ Lãi trong hạn: 230.769 đồng;

+ Lãi quá hạn: 1.572.000 đồng;

Tổng cộng: 4.892.000 đồng.

Ngân hàng A yêu cầu bà Nguyễn Mỹ D phải trả số tiền tạm tính đến ngày 29/12/2020 là 4.892.000 đồng; vốn gốc là 3.089.231 đồng và lãi trong hạn 230.769 đồng, lãi quá hạn là 1.572.000 đồng yêu cầu bà D tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà D đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập. Mặt khác bà D cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy bà đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 17/10/2016 được ký kết giữa Ngân hàng A - Chi nhánh An Giang với bà để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A yêu cầu bà D có trách nhiệm trả số tiền 4.892.000 đồng, trong đó: vốn 3.089.231 đồng, lãi tạm tính đến ngày 29/12/2020 là 1.802.769 đồng, gồm lãi trong hạn 230.769 đồng, lãi quá hạn là 1.572.000 đồng và còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 30/12/2020 cho đến khi thanh toán xong số nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn bà Nguyễn Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 357, 463; 466 và 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với bà Nguyễn Mỹ D.

Buộc bà Nguyễn Mỹ D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng A (do Ngân hàng A

- Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền 4.892.000 đồng (Bốn triệu tám trăm chín mươi hai nghìn đồng), trong đó vốn: 3.089.231 đồng, lãi tạm tính đến ngày 29/12/2020 là 1.802.769 đồng.

Kể từ ngày 30/12/2020, bà Nguyễn Mỹ D còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2] Về án phí: Bà Nguyễn Mỹ D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng A được nhận lại (do Ngân hàng A - Chi nhánh An Giang đại diện nhận thay) số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005190, ngày 30/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

[3] Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (30/12/2020), khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sựTuyên xử:

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)

Cỡ chữ