vanban.org

Bản án 138/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc M .

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Ngọc M ly hôn với anh Võ Trường S . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc M .
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-6-2019
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tiến Dũng.

2. Bà Nguyễn Thị Phương Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương-Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 607/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc M , sinh năm 1994; cư trú tại khu phố T Q N , thị trấn P M , huyện P M , tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Trường S , sinh năm 1993; cư trú tại thôn T H , xã Mỹ C T , huyện P M , tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 3 năm 2019, tại lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc M trình bày: Chị và chồng của chị là anh Võ Trường S đăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 5 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã M C T , huyện P M , tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn, giữa chị và anh Võ Trường S tìm hiểu một thời gian rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng của chị sống chung với nhau tại nhà cha, mẹ của anh Võ Trường S nhưng vợ chồng chỉ sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng của chị có quá nhiều bất đồng quan điểm sống; thời gian này chị mang thai nhưng anh Võ Trường S không có trách nhiệm với chị dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi với nhau. Vì mâu thuẫn trên và tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị đã bỏ về nhà cha, mẹ của chị ở cho đến nay. Từ khi chị về nhà cha, mẹ ở cho đến nay thì chị và anh Võ Trường S không có bất kỳ biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; không ai quan tâm đến ai. Nay quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Trường S .

Trong thời gian chung sống vợ chồng của chị có một người con chung là cháu Võ Lê Tuấn K , sinh ngày 11 tháng 3 năm 2016; hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung; nếu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Võ Trường S , chị yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh Võ Trường S cấp dưỡng nuôi con.

Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng. Hiện nay vợ chồng của chị không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản đối với ai khác nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn anh Võ Trường S tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Võ Trường S cũng không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ngọc M , cho chị Lê Thị Ngọc M được ly hôn với anh Võ Trường S ; tạm giao con chung của chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S là cháu Võ Lê Tuấn K , sinh ngày 11 tháng 3 năm 2016 cho chị Lê Thị Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng; chị Lê Thị Ngọc M không yêu cầu anh Võ Trường S cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Chị Lê Thị Ngọc M không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản; anh Võ Trường S cũng không có ý kiến, yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Các tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp gồm: Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã M C T , huyện P M , tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 26 tháng 5 năm 2015 (Bản chính); trích lục khai sinh của cháu Võ Lê Tuấn K (Bản sao); giấy chứng minh nhân dân của chị Lê Thị Ngọc M (Bản photocoppy); sổ hộ khẩu của hộ gia đình chị Lê Thị Ngọc M (Bản photocoppy).

Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc M và bị đơn anh Võ Trường S đăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 5 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã M C T , huyện P M , tỉnh Bình Định. Nay chị Lê Thị Ngọc M yêu cầu ly hôn với anh Võ Trường S , yêu cầu giao con chung là cháu Võ Lê Tuấn K , sinh ngày 11 tháng 3 năm 2016 cho chị Lê Thị Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng; chị Lê Thị Ngọc M không yêu cầu anh Võ Trường S cấp dưỡng nuôi con. Chị Lê Thị Ngọc M không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Võ Trường S không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia tố tụng tại phiên tòa mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay anh Võ Trường S cư trú thôn T H , xã M C T , huyện P M , tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Võ Trường S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Võ Trường S .

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã M C T , huyện P M , tỉnh Bình Định chứng nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01 ngày 26 tháng 5 năm 2015. Việc kết hôn giữa chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S tuân theo các điều kiện quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S là hợp pháp. Chị Lê Thị Ngọc M yêu cầu ly hôn với anh Võ Trường S vì cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng của chị sống chung với nhau tại nhà cha, mẹ của anh Võ Trường S nhưng vợ chồng chỉ sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng của chị có quá nhiều bất đồng quan điểm sống; thời gian này chị mang thai nhưng anh Võ Trường S không có trách nhiệm với chị dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi với nhau. Vì mâu thuẫn trên và tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị đã bỏ về nhà cha, mẹ của chị ở cho đến nay. Từ khi chị về nhà cha, mẹ ở cho đến nay, chị và anh Võ Trường S không có bất kỳ biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; không ai quan tâm đến ai. Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S để tiến hành hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng chị Lê Thị Ngọc M , anh Võ Trường S nhưng anh Võ Trường S không đến Tòa án để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh Võ Trường S tiếp tục vắng mặt. Do đó có căn cứ chứng minh hôn nhân giữa chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cho chị Lê Thị Ngọc M được ly hôn với anh Võ Trường S .

Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc M yêu cầu giao con chung là cháu Võ Lê Tuấn K , sinh ngày 11 tháng 3 năm 2016 cho chị Lê Thị Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng; chị Lê Thị Ngọc M không yêu cầu anh và anh Võ Trường S cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Lê Thị Ngọc M là người đang trực tiếp nuôi con chung; anh Võ Trường S không ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Lê Thị Ngọc M . Để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu Võ Lê Tuấn K , giao cháu Võ Lê Tuấn K cho chị Lê Thị Ngọc M trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Lê Thị Ngọc M không yêu cầu anh Võ Trường S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Anh Võ Trường S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Võ Trường S không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Lê Thị Ngọc M . Khi cần thiết anh Võ Trường S và chị Lê Thị Ngọc M đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Lê Thị Ngọc M không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Võ Trường S không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Lê Thị Ngọc M phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Lê Thị Ngọc M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000739 ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc M .

1. Về quan hệ hôn nhân:

Cho chị Lê Thị Ngọc M ly hôn với anh Võ Trường S .

Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Ngọc M ly hôn với anh Võ Trường S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã M C T , huyện P M , tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 26 tháng 5 năm 2015 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

Giao con chung của chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S là cháu Võ Lê Tuấn K , sinh ngày 11 tháng 3 năm 2016 cho chị Lê Thị Ngọc M trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; hiện nay chị Lê Thị Ngọc M đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Lê Tuấn K . Chị Lê Thị Ngọc M không yêu cầu anh Võ Trường S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh Võ Trường S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Võ Trường S không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Lê Thị Ngọc M . Khi cần thiết chị Lê Thị Ngọc M và anh Võ Trường S đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Lê Thị Ngọc M không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Võ Trường S không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Ngọc M phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Lê Thị Ngọc M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000739 ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 25 tháng 6 năm 2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân huyện P M ,

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA tỉnh Bình Định;

- Chi cục thi hành án dân sự huyện P M , tỉnh Bình Định;

- Ủy ban nhân dân xã M C T , huyện P M , tỉnh Bình Định;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

Văn Công Minh

- Lưu Văn thư. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ