vanban.org

Bản án 138/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Du Bảo C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Du Bảo C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2018. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Du Bảo C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Du Bảo C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2018/HS-ST.
Ngày 27-4-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B-TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Loan Trần Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Chánh.

Bà Lưu Kim Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Du Bảo C, sinh năm 1972 tại tỉnh Cần Thơ

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không nơi cư trú nhất định.

Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: không biết chữ; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Du Tòng G (đã chết) và bà Lê Thị V (đã chết); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 17/01/2018, chuyển tạm giam theo lệnh số 81/LTG ngày 24/01/2018 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Bị cáo có mặt)

- Người bị hại: Anh Lại Đăng K – sinh năm 1964. Địa chỉ: khu phố 9, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Du Bảo C là người nghiện ma túy và không có nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, C và đối tượng tên S (chưa rõ họ, địa chỉ) đã rủ nhau đi trộm cắp xe mô tô của người khác để đem bán. Khoảng 15 giờ ngày 17/01/2018, S điều khiển xe mô tô biển số 49V4-1425 chở C đi đến khu vực ấp Long Đ 1, xã P, thành phố B để tìm xem ai sơ hở trong việc quản lý xe mô tô thì sẽ trộm cắp. Khi đi đến khu vực chợ An Viễn ở ấp Long Đ 1, xã P thì S phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Boss, biển số 60L7-6219 của anh Lại Đăng K, ngụ tại khu phố 9, phường H, thành phố B đang dựng bên lề đường, trên xe vẫn còn cắm chìa khóa và không có ai trông coi nên S dừng xe lại để C đứng cảnh giới, còn S đi bộ đến mở khóa chiếc xe mô tô của anh K rồi điều khiển xe bỏ chạy thì bị anh K phát hiện truy hô và cùng quần chúng nhân dân đuổi theo. Lúc này C định lấy xe mô tô biển số 49V4-1425 của S để tẩu thoát thì bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt giữ giao cho Công an xã P lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý, còn S điều khiển xe mô tô của anh Khiêm chạy đến khu vực khu công nghiệp P, thành phố B thì bỏ xe lại và trốn thoát.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu Boss, biển số 60L7-6219 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho anh Lại Đăng K.

- 01 xe mô tô biển số 49V4-1425 của đối tượng tên S (chưa rõ họ, địa chỉ) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 11/TCKH-HĐĐG ngày 26/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “Chiếc xe mô tô hiệu Boss, biển số 60L7-6279 có giá trị định giá tài sản là 2.400.000đ”

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lại Đăng K đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại đối với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thành phố B.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa không có ý kiến đối với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thành phố B.

Bản cáo trạng số: 118/CT-VKSBH ngày 30/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Du Bảo C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, h, i khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Du Bảo C từ 06 (sáu) đến 08 (tám) tháng tù. Về xử lý vật chứng đối với xe mô tô biển số 49V4-1425 của đối tượng tên S (chưa rõ họ, địa chỉ) hiện chưa xác định được ai là chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ và xử lý sau.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi của bị cáo. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, với lời khai của người bị hại, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/01/2018, Du Bảo C và đối tượng tên S (chưa rõ họ, địa chỉ) đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô hiệu Boss, biển số 60L7-6219 có giá trị định giá là 2.400.000đ của anh Lại Đăng K thì C bị bắt giữ để điều tra xử lý, còn S bỏ chạy thoát. Hành vi trên đây của bị cáo C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.”

Trong vụ án bị cáo là người giúp sức tích cực, đứng cảnh giới cho S lấy xe của anh K. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo là người nghiện ma túy, cuộc sống còn khó khăn, không có việc làm ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô hiệu Boss, biển số 60L7-6219 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho anh Lại Đăng K là phù hợp.

- 01 xe mô tô biển số 49V4-1425 của đối tượng tên S (chưa rõ họ, địa chỉ) hiện chưa xác định được ai là chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ và xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lại Đăng K đã nhận lại tài sản nên không tiếp tục yêu cầu bồi thường.

Đối với đối tượng tên S (chưa rõ họ, địa chỉ) , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Du Bảo C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Du Bảo C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2018.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Du Bảo C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ