- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thân Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thân Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 138/2018/HS-ST Ngày: 21-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Quang Nghĩa - PCT. Hội Cựu chiến binh huyện Xuân Lộc.
2. Ông Trần Văn Xuân - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Vào ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại Phân trại số 2 Trại Giam Xuân Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 156/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Thân Đ, sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: đường M, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 2, Trại giam Xuân Lộc, Cục cảnh sát quản lý trại giam - Cơ sở giáo dục bắt buộc - Trường giáo dưỡng, Bộ Công an; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thân V, sinh năm 1958 và bà Trần Thị L, sinh năm 1954; Tiền sự: không; Tiền án: 04 tiền án:
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 149/HSST ngày 05 tháng 8 năm 1999, Tòa án nhân dân huyện B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản công dân";
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2001, Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04 tháng 01 năm 2002;
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 1085/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2004, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội "Cướp giật tài sản". Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21 tháng 5 năm 2007;
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 241/2007/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2007, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 18 năm tù về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy";
Tính đến ngày 23 tháng 7 năm 2018, bị cáo Thân Đ đã chấp hành án được 10 năm 11 tháng 01 ngày, còn phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại là 07 năm 29 ngày.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Mai V, sinh năm 1985; Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 2, Trại giam Xuân Lộc, Cục cảnh sát quản lý trại giam - Cơ sở giáo dục bắt buộc - Trường giáo dưỡng, Bộ Công an. (Có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Bùi H, sinh năm 1983; Nơi cư trú: phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 2, Trại giam Xuân Lộc, Cục cảnh sát quản lý trại giam - Cơ sở giáo dục bắt buộc - Trường giáo dưỡng, Bộ Công an. (Có mặt)
2. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1980; Nơi cư trú: khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)
3. Anh Lê Văn N, sinh năm 1980; Nơi cư trú: thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 2, Trại giam Xuân Lộc, Cục cảnh sát quản lý trại giam - Cơ sở giáo dục bắt buộc - Trường giáo dưỡng, Bộ Công an. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thân Đ và Mai V là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 2, Trại giam Xuân Lộc, Cục cảnh sát quản lý trại giam - Cơ sở giáo dục bắt buộc - Trường giáo dưỡng, Bộ Công an, thuộc ấp Phượng Vỹ, xã Suối Cao huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chấp hành án và sinh hoạt tại đội 9 thì giữa Thân Đ và anh Mai V phát sinh mâu thuẫn với nhau. Do vậy, vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23 tháng 7 năm 2018, khi Thân Đ và anh Mai V đang cùng lao động tại đội 9 thuộc Phân trại số 02, Trại giam Xuân Lộc, thì Thân Đ đã lấy 01 cái bén (loại dao tự chế) trong thùng đựng đồ cá nhân của Thân Đ rồi cầm trên tay phải đi bộ từ vị trí đang lao động ra phía sau lưng các phạm nhân khác và đến chỗ vị trí anh Mai V. Thân Đ đứng từ phía sau lưng dùng tay phải cầm bén vòng tay ra phía trước bên phải anh Mai V rạch liên tiếp 03 nhát vào vùng cổ và cằm của anh Mai V gây thương tích. Cùng lúc này thì Thân Đ bị các phạm nhân đang chấp hành án tại đội 9 và cán bộ quản giáo bắt giữ.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0614/GĐPY/2018 ngày 31 tháng 7 năm 2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai kết luận Mai V bị thương tích như sau:
Vết thương cằm phải kích thước 06x0,3cm, xấu về thẩm mỹ. Tỷ lệ 15 %.
Vết thương cổ trước kích thước 04x0,3cm và vết thương hõm ức kích thước 07x0,3cm. Tỷ lệ 03%.
Tụ dịch dưới vết thương hõm ức (dị vật phần mềm). Tỷ lệ 03%.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể (áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 20%.
Vật gây thương tích: Vật sắc.
Vật chứng vụ án thu giữ: 01 cái bén loại dao tự chế có kích thước dài 30cm, bản rộng 2,5cm, trong đó phần lưỡi dài 16cm và phần cán bằng gỗ dài 14cm.
Bản cáo trạng số 169/CT-VKSXL ngày 29 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố Thân Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Bị cáo Thân Đ và Mai V cùng là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại đội 9, phân trại số 2, Trại giam Xuân Lộc. Do cả hai đã có mâu thuẫn với nhau từ trước nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23 tháng 7 năm 2018, tại hiện trường lao động đội 9 thuộc phân trại số 02, trại giam Xuân Lộc, bị cáo Thân Đ có hành vi dùng 01 cái bén (loại dao tự chế) rạch liên tiếp 03 nhát vào vùng cổ, cằm của phạm nhân Mai V, gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 20%.
Tài liệu chứng cứ thu thập hoàn toàn khách quan, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Thân Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:
- Điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù. Tổng hợp với hình phạt tù còn lại của bản án hình sự sơ thẩm số 241/2007/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2007, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo quy định pháp luật.
- Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 cái bén loại dao tự chế có kích thước dài 30cm, bản rộng 2,5cm, trong đó phần lưỡi dài 16cm và phần cán bằng gỗ dài 14cm.
Bị cáo Thân Đ tự bào chữa: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình trái với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để có cơ hội sớm về hòa nhập với cộng đồng.
Ý kiến bị hại anh Mai V về hành vi phạm tội của bị cáo: nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, anh cho rằng mình có một phần lỗi nên đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và anh không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo , bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 7 năm 2018, bị cáo Thân Đ đã có hành vi dùng dao tự chế rạch liên tiếp 03 nhát vào vùng cổ và cằm của anh Mai V là phạm nhân đang chấp hành án tại Phân trại số 2, Trại Giam Xuân Lộc. Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận anh Mai V bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 20%. Do đó, hành vi của bị cáo Thân Đ đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo và anh Mai V cùng là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 2, Trại giam Xuân Lộc, nhưng chỉ vì một chút mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt mà bị cáo không tự kiềm chế bản thân mình và đã có hành vi dùng cái bén (con dao tự chế) là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Mai V.
Bị cáo đã 04 lần bị kết án phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, vận chuyển trái phép chất ma túy và đang chấp hành án phạt tù, nhưng bị cáo không cố gắng học tập, cải tạo để trở thành người công dân tốt, sớm trở về hòa nhập cộng đồng mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, nên áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Trong thời gian đang chấp hành án phạt tù” theo quy định tại điểm a và g khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và quyết định hình đối với bị cáo theo quy định tại điểm d và đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đồng thời xâm phạm đến hoạt động quản lý trại giam, ảnh hưởng xấu đến công tác giáo dục và cải tạo người phạm tội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp nên nhận thức còn hạn chế, người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 241/2007/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 18 năm tù về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" nhưng tiếp tục phạm tội mới. Tính đến thời điểm bị cáo phạm tội mới ngày 23 tháng 7 năm 2018, bị cáo còn phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại là 07 năm 29 ngày, nên Tòa án quyết định hình phạt đối tội mới, tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án nêu trên và quyết định hình phạt chung theo quy định tại khoản 2 Điều 56 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp.
Về vật chứng: 01 cái bén loại dao tự chế có kích thước dài 30cm, bản rộng 2,5cm, trong đó phần lưỡi dài 16cm và phần cán bằng gỗ dài 14cm bị cáo dùng làm công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị hại anh Mai V không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Thân Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ vào điểm d và đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt: bị cáo Thân Đ - 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm số 241/2007/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh là 07 (Bảy) năm 29 (Hai mươi chín) ngày tù. Buộc bị cáo Thân Đ phải chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng 29 (Hai mươi chín) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 7 năm 2018.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cái bén loại dao tự chế có kích thước dài 30cm, bản rộng 2,5cm, trong đó phần lưỡi dài 16cm và phần cán bằng gỗ dài 14cm, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 11 năm 2018.
- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Thân Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Thân Đ và anh Mai V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Công an huyện Xuân Lộc; - CCTHADS huyện Xuân Lộc; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trần Trường Phát |