vanban.org

Bản án 138/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 25/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ánh S.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 06/2018/HS-ST ngày 12/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ánh S phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ánh S phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ánh S.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2018/HS-PT
Ngày: 25/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam

Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang

Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 99/2018/HS-PT ngày 17 tháng 8 năm 2018 đối vớ

Nguyễn Ánh S do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2018/HS-ST ngày 12/7/2018 của Tòa án nhân dân

V, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ánh S; sinh ngày: 14/5/1994; nơi cư trú: tổ dân phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh M (đã chết) và bà Phạm Thị T (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: ngày 27/03/2018 bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: năm 2012, bị Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục H, tỉnh Quảng Trị thời hạn 18 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/4/2018 cho đến ngày 26/5/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh, hiện tại ngoại ở địa phương; sức khỏe bình thường; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Võ Quốc H – trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại không kháng cáo:

Anh Cao Văn N, sinh năm 1987; trú tại: phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh

2. Anh Võ Quốc T, sinh năm 1991 trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh

- Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh

Người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không liên quan đến kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/3/2018, Nguyễn Ánh S (ở tổ dân phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh) đi bộ sang nhà chị Nguyễn Thị T (em gái S) cùng tổ dân phố chơi thì thấy chị T và con đang ngủ, S nhìn sang nhà chị Nguyễn Thị T (là chị gái S) ở bên cạnh thấy có chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Primer, màu đen của anh Cao Văn N để ở trên cửa sổ phòng khách nhà chị Thắm đang S màn hình nên S đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại nói trên. S liền đi bộ sang cửa sổ phòng khách nhà chị T dùng tay lấy chiếc điện thoại di động trên bỏ vào túi quần đang mặc rồi đến cửa hàng điện thoại Anh L ở thị trấn V bán cho anh Võ Quốc T giá 1.000.000đ và sử dụng số tiền đó tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Primer trên, anh N trình báo công an và được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V điều tra, xác định Nguyễn Ánh S là người lấy trộm.

Tại kết luận giám định tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện V xác định chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Primer, màu đen trị giá 2.500.000đ.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ tại anh Võ Quốc T chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Primer, màu đen trả lại cho chủ sở hữu là anh Cao Văn N

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Ánh S đã nhờ chị gái Nguyễn Thị H bồi thường cho anh Võ Quốc T 1.000.000đ.

Anh Cao Văn N, anh Võ Quốc T và chị Nguyễn Thị H không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo.

Đối với anh Võ Quốc T mua chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Primer, màu đen của Nguyễn Ánh S nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2018/HS-ST ngày 12/7/2018, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ánh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Ánh S 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giam trước đó (từ ngày 03/4/2018 đến 26/5/2018).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Ngày 24/7/2018 bị cáo Nguyễn Ánh S làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS 2015, xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh “Trộm cắp tài sản” là đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như gia đình có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo vừa đã mất do bệnh hiểm nghèo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm:

Về nội dung:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 19 giờ ngày 28/3/2018, tại nhà chị Nguyễn Thị T ở tổ dân phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Ánh S đã lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Primer màu đen của anh Cao Văn N. Trị giá chiếc điện thoại di động S lấy trộm nói trên là 2.500.000đ.

Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Tĩnh đã kết án bị cáo Nguyễn Ánh S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ánh S, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng. Ngày 27/3/2018, bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” thì đến ngày 28/3/2018 lại phạm tội “Trộm cắp tài sản”, điều đó thể hiện bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện cải tạo bản thân, mà luôn coi thường pháp luật, vi phạm đạo đức, xã hội. Do đó, cần xét xử nghiêm khắc, không cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không bổ sung thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới hơn so với cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 tháng tù là đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo bị bác kháng cáo nhưng không phải chịu án phí HSPT do gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ánh S.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 06/2018/HS-ST ngày 12/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Tĩnh

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ánh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 (sửa đổi,bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Ánh S 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam (từ ngày 03/4/2018 đến ngày 26/5/2018).

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 BLTTHS 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, bị cáo Nguyễn Ánh S được miễn toàn bộ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ