vanban.org

Bản án 138/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 16/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194; điểm n, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn C: 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 138/2017/HSST
Ngày 16-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thiệm

Thẩm phán: Ông Cao Văn Tuấn

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đăng Khoa

2. Ông Nguyễn Kim San

3. Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Phương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 150/2017/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh năm 1981 tại Hải Phòng;

ĐKNKTT: Số 446B E, phường D, quận A, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 98 Lô 16 mở rộng, Tổ dân phố H 5, phường G, quận F, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; con ông Trần Văn K, sinh năm 1957 và bà Đoàn Thị C1, sinh năm 1957; có vợ là Nguyễn Thị Y, sinh năm 1991; có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/10/2016 đến ngày 18/10/2016 chuyển tạm giam; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn C: Ông Trần Hữu Khoát - Luật sư của Văn phòng Luật sư Lam Sơn thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Văn C: Ông Trần Văn K, sinh năm 1957; trú tại: Thôn M, xã L, huyện I, thành phố Hải Phòng – Bố đẻ của bị cáo; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trần Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 12 giờ 45 phút ngày 12/10/2016 tại khu vực ngõ 458 đường N, phường B, quận A, Hải Phòng, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng phát hiện bắt quả tang Trần Văn C có hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái phía sau của C có 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, qua giám định trọng lượng Methamphetamine có trong 24,36 gam tinh thể là 17,858 gam. Ngoài ra còn thu giữ của C 02 điện thoại di động; 01 xe mô tô Airblade màu đỏ trắng Biển kiểm soát 16 R6-8115; 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 giấy xác nhận CMND, 01 thẻ ngân hàng Sacombank, 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Văn C và 1.000.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của C, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 túi nilon chứa tinh thể dạng cục màu trắng trong tủ quần áo tại phòng ngủ tầng 4, qua giám định trọng lượng Methamphetamine có trong 465,91 gam tinh thể là 327,91 gam; thu tại phòng karaoke tầng 4 có 03 túi nilon chứa tinh thể màu trắng qua giám định 689,96 gam là phèn chua và đường không có thành phần chất ma túy. Thu trong két sắt tại tầng 1 số tiền 56.000.000 đồng.

Tổng trọng lượng ma túy thu giữ được của Trần Văn C khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp là 490,27 gam tinh thể có 345,768 gam Methamphetamine

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn C khai nhận: Khoảng đầu tháng 9 năm 2016, C quen một người phụ nữ khoảng 40 tuổi ở Lạng Sơn (C không biết lai lịch địa chỉ). C đặt vấn đề mua ma túy và được người phụ nữ đồng ý. Do không cầm theo tiền nên C xin số điện thoại của người phụ nữ này và hẹn sẽ lên Lạng Sơn gặp để mua ma túy. Sau đó, C mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà của mình tại địa chỉ số 98 Lô 16 mở tộng, đường H 5, F, Hải Phòng thế chấp ngân hàng vay 01 tỉ đồng để trả nợ và mua ma túy.

Khoảng 13h ngày 11/10/2016, C mang theo 170 triệu đồng đi xe khách đến thành phố Lạng Sơn để mua ma túy. Do không liên lạc được với người phụ nữ đã hẹn, C đi bộ vào chợ Tân Thanh để tìm người bán ma túy. C gặp một người phụ nữ khác khoảng 40 tuổi (C không biết tên, lai lịch, địa chỉ) đặt vấn đề hỏi mua ma túy đá. Người phụ nữ này đồng ý và thỏa thuận với C giá 01kg ma túy đá là 280 triệu đồng. Ngoài ra, người phụ nữ này còn giới thiệu với C có 3,5 lạng ketamine loại “phếch” (là dạng kém chất lượng – Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định, kết quả chỉ có thành phần phèn chua, đường không có chất ma túy), nếu C mua sẽ bán 25 triệu đồng. C đồng ý mua 0,5kg ma túy đá và 3,5 lạng ketamine. Sau đó, người phụ nữ dẫn C đến một nhà nghỉ để giao ma túy và nhận tiền. C đưa cho người phụ nữ này 165 triệu và nhận hai loại ma túy trên và đi về Hải Phòng. Sau khi về nhà, C cất 0,5kg ma túy đá vào tủ quần áo trong phòng ngủ tầng 4; 3,5 lạng ketamine “phếch” C chia vào 03 túi nilon nhỏ cất giấu trên hốc tường sau cánh cửa phòng karaoke tầng 4. Trưa ngày 12/10/2017, C san ra hơn 20 gam ma túy đá đóng gói vào 02 túi nilon, đút trong túi quần mang theo người để đi tìm khách mua. Khi C đi đến ngõ 458 đường N, phường B, quận A, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ C cùng toàn bộ tang vật. Đây là lần đầu tiên C thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy. Việc mua bán trái phép và cất giấu chất ma túy C thực hiện một mình không nói cho ai biết.

Ngoài ra, C còn khai nhận: Đối với số ketamine “phếch” C sẽ mua thêm ketamine để trộn vào bán kiếm lời. Số ma túy đá mua được, C dự định sẽ bán với giá 500 nghìn đồng/1 gam, nếu bán trót lọt C sẽ lãi 100 nghìn đồng/1g ma túy đá.

Ngày 01/5/2017, Luật sư bào chữa cho Trần Văn C cung cấp tài liệu thể hiện C từng mắc bệnh tâm thần vào thời gian năm 2012. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định tâm thần để xác định tình trạng khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của C trước, trong và sau khi phạm tội. Tại bản Kết luận giám định tâm thần số 330 ngày 27/9/2017 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can Trần Văn C có bệnh Giai đoạn trầm cảm vừa. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số R32.1. Bệnh đã được điều trị ổn định. Tại các thời điểm trên (trước, trong và sau khi phạm tội) bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại thời điểm giám định bị can Trần Văn C bị bệnh Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nhẹ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F33.0. Bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Bản Cáo trạng số 150/CT-VKS-P1 ngày 13 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Trần Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm n, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn C: Từ 17 năm đến 19 năm tù.

Phạt tiền bị cáo: Từ 10 triệu đến 20 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn C: Không tranh luận về tội danh, khung hình phạt của điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị có phần nghiêm khắc, bởi: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo bị bệnh tâm thần hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hoàn cảnh bị cáo khó khăn, hai vợ chồng đã ly thân, một mình bị cáo đang nuôi 3 con nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 47 Bộ luật HÌnh sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của Luật sư, lời khai của bị cáo cùng các tài liệu tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trưa ngày 12/10/2016, tại Ngõ 458 đường N, phường B, quận A, thành phố Hải Phòng, Tổ công tác của Phòng PC47 Công an thành phố Hải Phòng phát hiện bắt quả tang Trần Văn C mang trong 24,36 gam tinh thể màu trắng có 17,858 gam Methamphetamine. Tiến hành khám xét nhà C thu thêm được 465,91 gam tinh thể màu trắng có chứa 327,91 gam Methamphetamine và 689,96 gam phèn chua, đường trắng không có thành phần ma túy. Tổng lượng ma túy thu giữ trong người và trong nhà C là 490,27 gam, giám định có lượng tinh chất là 345,768 gam Methaphetamine. Nguồn gốc số ma túy này C khai mua của một phụ nữ khoảng 40 tuổi ở Lạng Sơn (không rõ nhân thân, lai lịch) nhằm mục đích bán kiếm lời. Do vậy, bị cáo Trần Văn C đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước về các chất gây nghiện, làm mất trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm.

Xét tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo C mua bán tổng trọng lượng ma túy là 490,27 gam tinh thể, qua giám định có lượng tinh chất là 345,768 gam Methaphetamine. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; theo Kết luận giám định tâm thần, tại thời điểm giám định, bị cáo bị bệnh Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nhẹ, làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự nên có đủ điều kiện áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Vì bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, vợ bỏ đi, hiện đang nuôi 3 con nhỏ, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo.

Đối với quan điểm bào chữa của Luật sư, Hội đồng xét xử chấp nhận và xử bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 hộp cat tông màu nâu niêm phong ma túy; 01 phong bì màu trắng niêm phong ma túy; 05 túi nilon màu trắng: Đây là những vật bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone 6, 01 ví da, 01 giấy xác nhận số chứng minh nhân dân, 01 thẻ thanh toán ngân hàng Sacombank, 01 giấy phép lái xe ô tô và số tiền 57.000.000 đồng: Bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Đối với 01 điện thoại Masstel: Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, giá trị sử dụng không đáng kể nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Trần Văn C phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194; điểm n, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Trần Văn C: 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2016.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) hộp cat tông màu nâu niêm phong ma túy; 01 (Một) phong bì màu trắng niêm phong ma túy; 05 (Năm) túi nilon màu trắng; 01 (Một) điện thoại Masstel.

Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại Iphone 6, 01 (Một) ví da, 01 (Một) giấy xác nhận số chứng minh nhân dân, 01 thẻ thanh toán ngân hàng Sacombank, 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô và số tiền 57.000.000 (Năm mươi bảy triệu) đồng

(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2017 tại Cục Thi hành án thành phố Hải Phòng và Biên lai thu tiền số 0003346 ngày 24/10/2017).

3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ