vanban.org

Bản án 138/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 21/09/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu T - “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:138/2017/HSPT
Ngày 21 tháng 9 năm 2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.

Các Thẩm phán:

- Bà Trần Thị Kim Hải;

- Ông Nguyễn Tuấn Long.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 151/2017/HSPT ngày 17 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 133/2017/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thu T –Sinh năm: 1991, tại Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Đường D, phường E, thành phố F, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn H (Danh bản ghi Nguyễn H1) và bà Nguyễn Thị Kim K; chưa có chồng, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 10 năm 2015, Nguyễn Thị Thu T làm nhân viên bán hàng tại tiệm vàng K – đường S, thành phố F, tỉnh Khánh Hòa, do anh Võ Văn V làm chủ. T được giao nhiệm vụ dán tem phiếu lên các đồ trang sức, sau đó trưng bày vào tủ kính và bán hàng. Trong khoảng thời gian làm việc trên, T đã lấy 01 dây chuyền nam và 01 đôi bông tai nữ bằng vàng (tổng trọng lượng 16 chỉ 07 phân vàng 61%) mang về nhà cất giấu. Ngày 22 tháng 10 năm 2015, anh V kiểm tra, phát hiện vàng trang sức trong tiệm bị mất nên yêu cầu Nguyễn Thị Thu T trả lại. T đã trả lại cho anh V 01 dây chuyền nam và 01 đôi bông tai nữ bằng vàng đã chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá tài sản số 413/TCKH ngày 22 tháng 11 năm 2016, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Toàn bộ số tài sản Nguyễn Thị Thu T chiếm đoạt của anh V có giá trị 35.070.000 đồng (Ba mươi lăm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng). Tại bản án hình sự sơ thẩm số 133/2017/HS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2017, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; các Điểm b, h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự,

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo. Ngày 25 tháng 7 năm 2017, bị cáo Nguyễn Thị Thu T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY:

- Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai của người bị hại trong vụ án và các chứng cứ khác do Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận: Trong quá trình làm việc tại tiệm vàng K – đường S, thành phố F, tỉnh Khánh Hòa, trong khoảng thời gian từ giữa tháng 10 năm 2015 đến ngày 22 tháng 10 năm 2015, Nguyễn Thị Thu T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh V 01 dây chuyền nam và 01 đôi bông tai nữ bằng vàngcó giá trị 35.070.000 đồng (Ba mươi lăm triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng). Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an.Vì vậy, cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáolà có căn cứ.

Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang sau khi xem xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Thu T09 (chín) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nên cấp phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng Hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; các Điểm b, h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T,

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ