- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1378/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2025 V/v tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Hà Như Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Duy Bảo
2. Ông Trần Văn Luyện
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hồ Đức Thịnh - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 252/2024/DSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số số 400/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở chính: Đường N, phường X (cũ là phường V, Quận C), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973, chức danh: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đoàn Nguyễn Thanh T, sinh năm 1973, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Phan Thị Thu T1, sinh năm 1990.
Địa chỉ thường trú: Đường B, phường C (cũ là Phường A, Quận E), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S và trong quá trình giải quyết vụ án, những người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09 tháng 6 năm 2022, bà Phan Thị Thu T1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.48%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 139.660.980 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 82.767.977 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 06 tháng 02 năm 2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 94.892.739 đồng làm nợ gốc sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, cụ thể là 2,48%/tháng x 150% =3,72%/tháng (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà T1 thanh toán nợ vay quá hạn nhưng bà T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bà T1 trả tiền nợ gốc và tiền lãi còn thiếu của thẻ tín dụng.
Tính đến ngày 16 tháng 9 năm 2025, bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 169.117.758 đồng, trong đó nợ gốc là 94.892.739 đồng, lãi quá hạn là 74.225.019 đồng.
Tại bản tự khai ngày 15 tháng 9 năm 2025, bị đơn là bà Phan Thị Thu T1 trình bày:
Bà Phan Thị Thu T1 xác nhận ngày 09 tháng 6 năm 2022 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng V số 436438-3836, hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,48%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Sau khi được cấp thẻ, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 139.660.980 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 82.767.977 đồng. Đối với yêu cầu của Ngân hàng bà T1 đề nghị Ngân hàng xem xét giảm tiền lãi do hiện nay bà đang bị tạm giam, không có thu nhập.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn là ông Đoàn Nguyễn Thanh T vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai ngày 30 tháng 9 năm 2025, ông T xác định nguyên đơn yêu cầu bà Phan Thị Thu T1 trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2025 tổng cộng là 170.766.426 đồng, trong đó nợ gốc là 94.892.739 đồng, lãi quá hạn là 75.873.687 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
- Bị đơn là bà Phan Thị Thu T1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S, buộc bị đơn là bà Phan Thị Thu T1 thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn thiếu tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2025 là 170.766.426 đồng, trong đó: nợ gốc là 94.892.739 đồng, nợ lãi quá hạn là 75.873.687 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09 tháng 6 năm 2022 và Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Bị đơn chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Phan Thị Thu T1 thanh toán tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng. Bị đơn là bà Phan Thị Thu T1 có địa chỉ cư trú tại phường C, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ là Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng thẻ tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Đoàn Nguyễn Thanh T là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn và bị đơn là bà Phan Thị Thu T1 vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự:
Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu bị đơn là bà Phan Thị Thu T1 trả tiền nợ thẻ tín dụng còn thiếu tạm tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2025 là 170.766.426 đồng trong đó: nợ gốc là 94.892.739 đồng, nợ lãi quá hạn là 75.873.687 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025 đến khi trả hết nợ theo lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng.
Về tiền nợ gốc:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29 tháng 6 năm 2022, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S (có hiệu lực kể từ ngày 29 tháng 11 năm 2019) cũng như trình bày của nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở xác định, Ngân hàng Thương mại cổ phần S có cấp cho bà Phan Thị Thu T1 thẻ tín dụng Visa Platinum Cashback số 436438-3836, hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, mục đích để tiêu dùng cá nhân.
Căn cứ Tóm tắt sao kê thẻ tín dụng số 436438-3836 do Ngân hàng cung cấp có cơ sở xác định, kể từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 139.660.980 đồng và bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 82.767.977 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán theo Điều 21 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06 tháng 02 năm 2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ bà T1 còn thiếu tại thời điểm này là 94.892.739 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất được công bố tại thời điểm chuyển này đối với toàn bộ dư nợ theo quy định tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Về tiền nợ lãi: Căn cứ Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, lãi suất thẻ tín dụng quốc tế được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2022 là 2,48%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 150% x 2,48%/tháng = 3,72%/tháng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà T1 phải thanh toán nợ lãi quá hạn của thẻ tín dụng nêu trên từ ngày 06 tháng 02 năm 2024 đến ngày 30 tháng 9 năm 2025 với số tiền 75.873.687 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Vì vậy, nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu bị đơn là bà Phan Thị Thu T1 phải thanh toán số tiền nợ của thẻ tín dụng tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2025 là 170.766.426 đồng (gồm: nợ gốc là 94.892.739 đồng, nợ lãi quá hạn là 75.873.687 đồng) là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09 tháng 6 năm 2022, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
Buộc bà Phan Thị Thu T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ của thẻ tín dụng Visa Platinum Cashback số 436438-3836, tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2025 là 170.766.426 đồng (một trăm bảy mươi triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 94.892.739 đồng (chín mươi bốn triệu tám trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng), nợ lãi quá hạn là 75.873.687 đồng (bảy mươi lăm triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm tám mươi bảy đồng).
Thực hiện thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025, bà Phan Thị Thu T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09 tháng 6 năm 2022, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí dân sự sơ thẩm là 8.538.321 đồng (tám triệu năm trăm ba mươi tám nghìn ba trăm hai mươi mốt đồng) do bà Phan Thị Thu T1 chịu.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.315.646 đồng (ba triệu ba trăm mười lăm nghìn sáu trăm bốn mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036448 ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S, bà Phan Thị Thu T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 3 - TP.HCM; - Thi hành án dân sự TP.HCM; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hà Như Oanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hà Như Oanh |