- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hồ Thị Mỹ L tranh chấp ly hôn với ông Nguyễn Văn D"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1373/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28/11/2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Kim Hoa;
2. Bà Nguyễn Ngọc Thanh Tuyền;
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 373/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 467/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 378/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2019 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Mỹ L, sinh năm: 1990 (Vắng mặt – Có yêu cầu giải quyết vắng mặt);
Địa chỉ: đường số 59 ADV, phường X, quận Y, Thành phố H.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1987 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp 1A, xã BH, huyện BC, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị Mỹ L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn vào năm 2016, có tìm hiểu, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2016, Giấy chứng nhận kết hôn số 79/2016 do UBND xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA cấp ngày 24/5/2016. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Đến năm 2017, bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, do tính tình quan điểm sống không còn hòa hợp, vợ chồng không có sự yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu ly hôn với ông D.
Về con chung: Có hai người con chung tên là Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 21/02/2008 và trẻ Nguyễn Phú T, sinh ngày 14/4/2016. Bà L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Thuận và trẻ Thành. Bà không yêu cầu ông D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt do có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cố tình vắng mặt tại Tòa án, không thể hiện ý kiến gì.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Hồ Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn D. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 79/2016 do Ủy ban nhân dân xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA cấp ngày 24/5/2016, giữa bà Hồ Thị Mỹ L và ông Nguyễn Văn D là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét, đời sống chung vợ chồng giữa bà L và ông D phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống với nhau, hai người không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông D tuy chưa được chính quyền địa phương tổ chức hòa giải cơ sở nhưng Ủy ban nhân dân xã BH đã xác định bà L và ông D đã không còn sống chung với nhau theo nội dung tại Công văn số 4041/UBND ngày 25/10/2019. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông D vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều này cho thấy ông D đã không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, bà L và ông D cũng đã sống ly thân với nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Mỹ L là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Bà L và ông D có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim T, giới tính nữ, sinh ngày 21/02/2008 và Nguyễn Phú T, giới tính nam, sinh ngày 14/4/2016. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, trẻ Kim T và trẻ Phú T hiện đang sống chung với bà L. Trẻ Thuận có nguyện vọng muốn sống chung với bà L. Bà L có thu nhập ổn định và chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho con chung. Nếu thay đổi việc nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ Kim T và trẻ Phú T cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông D có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung: Bà L tự thỏa thuận với ông D và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét. Trường hợp các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
. Về nợ chung: Bà L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.
. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận;
. Về án phí: Bà Hồ Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Hồ Thị Mỹ L và ông Nguyễn Văn D.
Giấy chứng nhận kết hôn số 79/2016 do UBND xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA cấp ngày 24/5/2016 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Thị Kim T, giới tính nữ, sinh ngày 21/02/2008 và Nguyễn Phú T, giới tính nam, sinh ngày 14/4/2016 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông D có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà L tự thỏa thuận với ông D và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét. Trường hợp các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
4. Về nợ chung: Bà L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.
5. Về án phí: Bà Hồ Thị Mỹ L phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2018/0015458 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân H.BC; - Chi cục THADS H.BC; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu: VT, hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tấn Việt |