- Tranh chấp gì? "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 137/2023/HSST Ngày: 24/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Hậu
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Quang Hiên
Bà Trần Thu Phương
- Thư ký phiên tòa:
Ông Trần Quốc Trung, Thư ký Tòa án.
- Đại diện VKSND quận Bắc Từ Liêm, Thành, phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến tại Trại giam số 1 Công an thành phố Hà Nội và điểm cầu xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 135/2023/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2023/QĐXX, ngày 10/7/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đức T - Sinh năm: 1994; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: Xóm 2, xã X, huyện X1, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Vũ Đức D – Sinh năm: 1963; Họ và tên mẹ: Phạm Thị H –Sinh năm: 1973; Gia đình có hai anh em, bị can là con thứ nhất. Theo danh chỉ bản số 239, lập ngày 27/4/2023 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt theo lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an TP Hà Nội.
Người bị hại:
1. Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1979; HKTT: TDP số 1, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
2. Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1997, HKTT: Thôn T, xã Q, Thị xã K, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt).
3. Bệnh viện đa khoa Phương Đông; Địa chỉ: Số 9 phố Viên, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trung Chính – Giám đốc bệnh viện; Người đại diện theo ủy quyền: Chị Vũ Thị Hương. (Vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Thanh M, sinh năm 1977; HKTT: Xã Yên Khang, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1996; HKTT: Số 7 ngõ 2 phố Thái Hà, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội. (Vắng mặt).
3. Bà Phạm Thị H – Sinh năm 1973; Xóm 2, xã Xuân Đài, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11h30’ ngày 19/4/2023, Công an phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội nhận được tin báo tại Bệnh viện Phương Đông có một nam thanh niên đang cạy cốp xe máy ở nhà xe của bệnh viện thì bị lực lượng bảo vệ phát hiện. Cơ quan Công an đã đến hiện trường, nam thanh niên tự khai tên Vũ Đức T. Quá trình điều tra xác định T đã đến Bệnh viện Phương Đông những ngày trước và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Đến 15h 10’ ngày 19/4/2023, Công an phường Cổ Nhuế 2 nhận được đơn của chị Trần Thị Ngọc T (SN : 1979, HKTT : TDP số 1, phường C, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) trình báo về việc: Ngày 05/4/2023 chị T bị mất trộm 01 chiếc ví bên trong có 1.200.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng tại khu lầu lục giác Bệnh viện đa khoa Phương Đông.
Hồi 15 giờ 45 ngày 19/4/2023 Công an phường Cổ Nhuế 2 nhận được đơn của chị Hoàng Thị C (SN : 1997, HKTT : thôn X, xã Q, TX Kinh Môn, Hải Dương) trình báo về việc: Khoảng 10h ngày 11/4/2023 chị C đi xe máy Honda Lead màu đỏ BKS: 34D1 – 479.40 đến bệnh viện đa khoa Phương Đông và có để xe tại nhà để xe. Đến khoảng 16h cùng ngày chị ra lấy xe thì phát hiện bị mất 01 điện thoại Iphone 6 số 0852.560.198 cất ở trong cốp xe.
Vật chứng thu giữ của Vũ Đức T:
- 01 xe máy Wave RSX màu trắng, đen, biển kiểm soát 18R1-6754, số máy : JC43E59107756, số khung : RLHJC432XBY009129.
- 01 điện thoại Samsung A01 màu xanh, lắp số thuê bao 0815592331.
- Số tiền 18.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Bắc Từ Liêm kết luận:
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus 128Gb màu hồng, đã qua sử dụng trị giá 2.300.000 đồng.
- 01 điện thoại di động Iphone 6S 64Gb màu trắng, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng (không thu giữ được tài sản, có hình ảnh trước khi xảy ra vụ việc) trị giá 500.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định nội dung sự việc như sau:
Do thiếu tiền tiêu xài và đã từng vào Bệnh viện đa khoa Phương Đông tại số 9 Phố Viên, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội nên Vũ Đức T nảy sinh ý định vào bệnh viện tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Cụ thể T đã ba lần vào Bệnh viện và trộm cắp như sau :
Lần thứ nhất: Khoảng 7h ngày 05/4/2023 T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18R1-6754 đi vào bãi để xe bệnh viện đa khoa Phương Đông. Sau khi gửi xe, T đi vào lầu lục giác – là nơi thờ cúng ngoài trời, trong khuôn viên Bệnh viện thì phát hiện chiếc túi xách của chị Trần Thị Ngọc T để tại bậc thang. Thấy không có người nên T đã mở túi xách và trộm cắp một chiếc ví màu hồng bên trong có 1.200.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân và một chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng của chị Trần Thị Ngọc T. Sau đó, T ra khỏi cổng của Bệnh viện và vứt chiếc ví ở trên đường đi. Ngày 13/4/2023, T mang chiếc điện thoại di động trộm cắp được bán cho anh Trần Thanh M (sinh năm 1977, HKTT: Yên Khang, Ý Yên, Nam Định) được 750.000 đồng. Số tiền trộm cắp được, T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra, cơ quan Công an đã dẫn giải T đến nơi bán tài sản và đã thu giữ được của anh Trần Thanh M: 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng (BL 163). Ngày 19/4/2023, bà Phạm Thị H – mẹ của Vũ Đức T đã giao nộp số tiền 1.200.000 đồng để khắc phục hậu quả. Chị T đã nhận lại được tiền và chiếc điện thoại bị trộm cắp, chị T không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Lần thứ hai: Khoảng 13h ngày 11/4/2023, T tiếp tục điều khiển xe máy biển kiểm soát 18R1-6754 đi vào bệnh viện đa khoa Phương Đông. Sau khi gửi xe xong, T phát hiện chiếc xe máy Honda Lead màu đen BKS: 34D1 – 479.40 của chị Hoàng Thị C đang để ở bãi gửi xe, không đóng cốp nên Tiến đã mở cốp xe trộm cắp 01 điện thoại Iphone 6S màu trắng. Sau khi trộm cắp, T mang điện thoại đến cửa hàng buôn bán điện thoại cũ số 44A Nguyễn Chí Thanh, Ba Đình, Hà Nội bán cho anh Nguyễn Hữu Q (SN: 1996, HKTT : số 7 ngõ 2, Thái Hà, Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội) được 200.000 đồng, số tiền trên T đã tiêu xài hết. Anh Q đã bán chiếc điện thoại trên cho khách hàng (không xác định nhân thân, lai lịch) nên không thu giữ được vật chứng. Chị C không yêu cầu Tiến bồi thường trị giá chiếc điện thoại bị mất.
Lần thứ ba: Đến khoảng 11h15’ ngày 19/4/2023, T tiếp tục điều khiển xe máy biển kiểm soát 18R1-6754 đến bệnh viện đa khoa Phương Đông để trộm cắp tài sản. Sau khi gửi xe, T đến ban thờ ở lầu lục giác trộm cắp được 18.000 đồng trên ban thờ. Sau đó T quay lại nhà để xe tìm có xe máy nào không khoá cốp để trộm cắp tài sản tiếp thì bị bảo vệ bệnh viện Phương Đông phát hiện giữ lại và trình báo công an phường Cổ Nhuế 2 giải quyết. Bệnh viện đa khoa Phương Đông đã nhận lại 18.000 đồng và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Đức T thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như trên và khai mục đích trộm cắp để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Đối với anh Trần Thanh M, anh Nguyễn Hữu Q: mua điện thoại di động do T bán nhưng không biết đó là tài sản do T trộm cắp mà có, do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Bệnh viện đa khoa Phương Đông, chị Trần Thị Ngọc T, chị Hoàng Thị C, anh Trần Thanh M không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với chiếc xe máy Wave RSX màu trắng, đen, biển kiểm soát 18R1-6754 đã thu giữ của Vũ Đức T: Tra cứu nguồn gốc phương tiện cơ giới đường bộ xác định chủ xe là anh Phạm Văn Đ (sinh năm 1987, HKTT: Xuân Hùng, Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định). Năm 2016, anh Đ đã bán chiếc xe trên cho anh Phạm Văn N (địa chỉ: Xuân Ninh, Xuân Trường, Nam Định). Năm 2018, anh N bán xe cho bà Phạm Thị H (mẹ đẻ của Vũ Đức T). Bà H cho Tiến sử dụng xe làm phương tiện đi lại nhưng không biết T sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Xét thấy chiếc xe máy trên T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó chuyển cùng vật chứng để Tòa án giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số: 136/CT-VKSBTL, ngày 30/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Nà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Đức T về tội “Trộm cắp tài sản“ theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội. Đại diện VKSND quận Bắc Từ Liêm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức T mức án từ 08 đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Người bị hại: Đại diện Bệnh viện đa khoa Phương Đông, chị Trần Thị Ngọc T, chị Hoàng Thị C, anh Trần Thanh M không có yêu cầu gì về dân sự. Vì vậy không xét.
+ Đối với số tiền 750.000 đồng, Gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh M nên không xét.
+ Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có.
Về vật chứng của vụ án:
+ Trả cho bị cáo T 01 điện thoại Samsung A01 màu xanh, lắp số thuê bao 0815592331
+ Trả lại bà Phạm Thị H 01 xe máy Wave RSX màu trắng, đen, biển kiểm soát 18R1-6754
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tố tụng: Các hành vi, quết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm; Kiểm sát viên -Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.
. Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đức T tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 05/4/2023 - 19/4/2023, bị cáo Vũ Đức T ba lần đến Bệnh viện đa khoa Phương Đông tại số 9 Phố Viên, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội thực hiện hành lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể: Ngày 05/4/2023, bị cáo Vũ Đức T trộm cắp một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng trị giá 2.300.000 đồng và 1.200.000 đồng của chị Trần Thị Ngọc T. Ngày 11/4/2023, bị cáo Vũ Đức T tiếp tục trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng trị giá 500.000 đồng của chị Hoàng Thị C. Ngày 19/4/2023, bị cáo Tiến tiếp tục trộm cắp được 18.000 đồng trên ban thờ của lầu lục giác, khi đang tiếp tục tìm sơ hở để trộm cắp thì bị lực lượng bảo vệ của Bệnh viện phát hiện và trình báo Công an phường Cổ Nhuế 2. Tổng số tiền Tiến đã trộm cắp là 4.018.000 đồng. Vì vậy bản cáo trạng số : 136/CT-VKSBTL, ngày 30/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội đã truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Về tính chất hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong khu vực, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi, thực hiện nhiều hành vi nhiều ngày, của nhiều người tại bệnh viên. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử xét bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, xét bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả theo quy định tại Điểm i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự:
+ Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về bồi thường dân sự nên Tòa không xét.
+ Đối với 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng bị cáo bán cho anh Trần Thanh M được 750.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Mỹ số tiền trên. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
+ Đối với 01 điện thoại Iphone 6S màu trắng bị cáo bán cho anh Nguyễn Hữu Q được 200.000 đồng, anh Quỳnh không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên. Tuy nhiên xét đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Vì vậy buộc bị cáo phải truy nộp để sung công quỹ nhà nước.
. Về vật chứng của vụ án:
+ Đối 01 điện thoại Samsung A01 màu xanh, lắp số thuê bao 0815592331, thu giữ của bị cáo. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy trả lại cho bị cáo Vũ Mạnh Tiến.
+ Đối với 01 xe máy Wave RSX màu trắng, đen, biển kiểm soát 18R1-6754, số máy : JC43E59107756, số khung : RLHJC432XBY009129. Quá trình xác minh cơ quan điều tra đã xác định được chủ sở hữu là của bà Phạm Thị H. Bà Hiên cho bị cáo Tiến mượn để đi lại. Vì vậy chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Nay trả lại bà Phạm Thị H.
. Về án phí và quyền kháng cáo:
+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
+ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
1.1. Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Vũ Đức T 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 4 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
3. Về vật chứng của vụ án:
- Áp dụng Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ Buộc bị cáo bị cáo Vũ Đức T phải truy nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) sung công quỹ nhà nước.
+ Trả lại bị cáo Vũ Đức T 01 điện thoại Samsung A01 màu xanh, lắp số thuê bao 0815592331 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
+ Trả lại bà Phạm Thị H 01 xe máy Wave RSX màu trắng, đen, biển kiểm soát 18R1-6754, số máy : JC43E59107756, số khung : RLHJC432XBY009129.
(Vật chứng được sử lý theo biên bản giao nhận vật chứng số: 194/23, ngày
12/7/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm với Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm)
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: Bị cáo Vũ Đức T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
+ Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Các người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm; - Lưu HS-VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Quang Hậu |