- Tranh chấp gì? "Phạm Hữu Nhân - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI NHÂN DANH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thanh Phương
2. Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Anh - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Hữu N, sinh ngày 06/3/2007, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện tại: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh H, sinh năm 1972 và bà Tăng Thị Sà V, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt giữ ngày 04/01/2025, sau đó chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Hữu N – có ông Phạm Minh H, sinh năm 1972 và bà Tăng Thị Sà V, sinh năm 1978 - Là cha, mẹ của bị cáo. Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Hữu N – có bà Bùi Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 03/01/2025, Phạm Hữu N đi xe ôm từ phòng trọ tại ấp P, xã P, huyện N đến khu vực gầm cầu vượt thuộc khu C, thị trấn L, huyện L gặp người đàn ông tên L (không rõ lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy đá (loại Methamphetamine). Sau đó N cất giấu gói ma tuý vào túi áo khoác bên phải rồi đi xe ôm về đến cổng chào xã P thuộc ấp P, xã P, huyện N thì xuống xe. Đến 00 giờ 30 phút ngày 04/01/2025, khi N đi bộ vào một con hẻm để tìm kiếm địa điểm sử dụng ma tuý thì bị Công an xã P tuần tra phát hiện, thu giữ trong túi áo khoác bên phải của N có 01 gói nylon hàn kín, kích thước 0l cm x 02 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thụ lý theo thẩm quyền.
Tang vật thu giữ: 01 gói nylon hàn kín, kích thước 01 cm x 02 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong);
Tại Kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,3543gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 0,3233gam.
Tại bản cáo trạng số: 99/CT.VKSNT ngày 27/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hữu Nhân T 12 đến 18 tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mẫu vật sau giám định ký hiệu số 27/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ. Đối với người tên L đã bán ma túy cho Phạm Hữu N chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hữu N không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Phạm Hữu N (sinh ngày 06/3/2007) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 03/01/2025, Phạm Hữu N đã có hành vi mua của một người tên L (không rõ lai lịch) 300.000 đồng ma túy đá (loại Methamphetamine) tại gầm cầu vượt thuộc khu C, thị trấn L, huyện L. Sau đó N cất giấu gói ma tuý vào túi áo khoác bên phải rồi đi xe ôm về đến cổng chào xã P thuộc ấp P, xã P, huyện N thì xuống xe. Đến 00 giờ 30 phút ngày 04/01/2025, khi N đi bộ vào một con hẻm để tìm kiếm địa điểm sử dụng ma tuý thì bị Công an xã P tuần tra phát hiện bắt quả tang.
Lời thừa nhận của bị cáo Phạm Hữu N phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Phạm Hữu N tàng trữ theo Kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ có khối lượng 0,3543gam, loại Methamphetamine và hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Hữu N đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Phạm Hữu N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Phạm Hữu N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tiền án, tiền sự: Không có
Tội phạm do bị cáo Phạm Hữu N thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương; bị cáo biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện, thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, do đó cần xét xử nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hữu N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi trình độ nhận thức có phần hạn chế, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận. [4]. Về xử lý vật chứng: 0,3233gam ma túy loại Methamphetamine (được niêm phong số 27/KL-KTHS, ngày 10/01/2025 có dấu tròn màu đỏ Phòng K Công an tỉnh Đ) bị cáo tàng trữ trái phép, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
Đối với người tên L bán ma túy cho N, hiện chưa rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phạm Hữu N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; 38; 91; Khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Hữu N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu 0,3233gam ma túy loại Methamphetamine (được niêm phong số 27/KL-KTHS ngày 10/01/2025 có dấu tròn màu đỏ Phòng K Công an tỉnh Đ) tiêu hủy.
Theo biên bàn giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Hữu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu HS, VP | (Đã ký) Trần Nguyên Vũ |