vanban.org

Bản án 137/2026/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 26/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy H, Phạm Công C, Vũ Duy H3 và Nguyễn Văn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy H - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2026/HS-ST
Ngày: 26/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Hiệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mai Vinh - Giáo viên nghỉ hưu

2. Bà Vũ Thị Minh Nguyệt - Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thúy, ông Nguyễn Hữu Khang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2026/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2026/HSST-QĐ ngày 15 tháng 6 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Huy H, sinh ngày 22/3/2007; số CCCD: 030207010514; nơi cư trú: Xóm B, thôn B, xã H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 49 ngày 27/5/2024, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt H số tiền 3.250.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích (Chưa chấp hành); nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112 ngày 28/8/2023, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt H số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (nộp phạt ngày 29/8/2023); tại Bản án hình sự phúc thẩm số 77/2025/HS-PT ngày 26/6/2025, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng) xử phạt H 06 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2026 (H thực hiện hành vi phạm tội ngày 21/9/2024 khi 17 tuổi 05 tháng 29 ngày, nên được coi là không có án tích); bị bắt tạm giam ngày 21/01/2026, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H; có mặt.

2. Phạm Công C, sinh ngày 08/11/2006; số CCCD: 03026004902; nơi cư trú: Số A P, Khu H, phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công H2 và bà Nguyễn Thị V1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Vũ Duy H3, sinh ngày 07/7/2007 (khi phạm tội 17 năm 11 tháng 28 ngày tuổi); số CCCD: 030207018591; nơi cư trú: Thôn C, xã H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Duy T và bà Phạm Thị H4; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

4. Nguyễn Văn P, sinh ngày 12/02/2008 (khi phạm tội 17 năm 04 tháng 23 ngày tuổi); số CCCD: 030208012709; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo P: Bà Đoàn Thị H5 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đêm ngày 05/7/2025, Phạm Công C điều khiển xe mô tô Airblade chở Vũ Duy H3 đi đến khu vực khách sạn N4, thuộc địa phận phường T, thành phố Hải Phòng chơi. H3 nhặt được 01 bình xịt hơi cay ở khu vực đồi cỏ gần khách sạn 25 tầng và để vào trong cốp xe. Sau đó, H3 gọi điện cho Nguyễn Huy H rủ đi đua xe và đánh nhau với các nhóm khác, H đồng ý. H3 điều khiển xe mô tô chở C đến nhà H. Tại nhà H, cả ba tháo biển số, H3 lấy bình xịt hơi cay trong cốp xe cầm trên tay. Sau đó H điều khiển xe chở H3 ngồi giữa, C ngồi sau đi hướng về khách sạn N4. Khi đi đến gầm cầu vượt N thuộc địa phận phường T, thành phố Hải Phòng thì gặp K1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) đi xe môtô Airblade màu trắng, không gắn biển số. H lên xe điều khiển chở K1, C điều khiển xe chở H3, cả nhóm bắt đầu đua xe với tốc độ khoảng 90km/h trên các tuyến đường N - N - T - khách sạn N4. Sau đó, H gọi điện thoại cho Nguyễn Hải N1 (sinh ngày 10/8/2004, trú tại: Thôn N, xã Đ, thành phố Hải Phòng) mượn hung khí. Theo hướng dẫn của N1, K1 và H đi vào chợ H6 đón Phạm Tuấn A (sinh ngày 19/02/2010, trú tại: Thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng) để lấy hung khí (sau đây gọi là nhóm H). Cả nhóm H đi lên đê gần Khu đô thị E thuộc địa phận: Phường T, thành phố Hải Phòng lấy 01 “phóng lợn” dài khoảng 03m, đầu gắn dao bầu mũi nhọn, dài khoảng 20cm. Sau đó, K1 điều khiển xe chở Tuấn A ngồi giữa, H ngồi sau cầm “phóng lợn”, C điều khiển xe chở H3 tiếp tục đi ra đường N thì gặp 01 xe môtô Airblade chở ba (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cầm theo gậy dóc tre nhập vào nhóm H. Nhóm H tiếp tục điều khiển xe tốc độ cao, rú ga, nẹt bô, lạng lách, đánh võng quanh khu vực đồi cỏ khách sạn N4 và đường N. Khi cả nhóm đang đi thì có thêm 03 xe môtô, mỗi xe chở hai người (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cầm theo kiếm, “đinh ba” nhập nhóm của H, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe tìm nhóm khác đánh nhau. Đến khoảng 02 giờ ngày 06/7/2025, thì gặp nhóm của S (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi 04 xe mô tô cầm theo kiếm, “phóng lợn” và “bom xăng”. Nhóm H đuổi theo nhóm S dọc theo đường V - ngã 3 H thuộc địa phận phường T và V, thành phố Hải Phòng để đánh thì nhóm S ném “bom xăng” về phía nhóm H. Nhóm S chạy ra Quốc lộ E thì nhóm H không đuổi nữa. Khi quay lại, nhóm H bị khoảng 10 xe máy cầm theo “phóng lợn”, gậy dóc tre và kiếm đuổi, H3 dùng bình xịt hơi xịt hơi cay, H cầm phóng lợn giơ lên về phía sau để truy cản nhóm trên lại, nhóm H chạy mỗi xe một hướng. Sau đó, nhóm H tập trung tại khu vực gần cầu P thuộc địa phận phường T, thành phố Hải Phòng. H gọi điện cho Nguyễn Hải N1 cầm hung khí đến. Một lúc sau, N1 điều khiển xe mô tô Airblade mầu xanh rêu, không gắn biển số chở Nguyễn Văn P mang theo 01 két đựng vỏ chai bia và khoảng 04 tuýp kim loại đến chỗ nhóm H. Khi đến, P vứt tuýp xuống đất để ai cần thì lấy và cầm khoảng 05 vỏ chai bia, còn két đựng vỏ chai bia P đưa cho Tuấn A. Lúc này, nhóm của H gồm 04 xe môtô gồm: 01 xe môtô do N1 điều khiển chở P ngồi giữa cầm vỏ chai bia, H ngồi sau cầm “phóng lợn”; 01 xe môtô do C điều khiển chở H3 ngồi sau cầm bình xịt hơi cay; 01 xe môtô do K1 điều khiển chở Tuấn A và 01 xe Airblade màu đen, người ngồi sau cầm “đinh ba”, tiếp tục di chuyển với tốc độ cao, rú ga, nẹt bô, lạng lách, đánh võng, hò hét trên đường, tìm nhóm thanh niên khác đánh nhau. Trên đường di chuyển, P và Tuấn A dùng vỏ chai bia đáp người đi đường, nhưng không trúng ai. Khi đi đến khu vực cầu C thuộc địa phận phường L thì cả nhóm gặp Nguyễn Anh T2 (sinh ngày 13/8/2009, trú tại: thôn N, xã T, thành phố Hải Phòng) điều khiển xe mô tô Airblade mầu đen, biển số 34AK-03391. H cầm “phóng lợn” ngồi lên xe mô tô T2 điều khiển. Cả nhóm cầm theo hung khí tiếp tục di chuyển với tốc độ cao, rú ga, nẹt bô trên đường L - Nguyễn Lương B. Khi đến đoạn rẽ vào đường T, cả nhóm đuổi theo 04 nam thanh niên đi 02 xe môtô, quá trình đuổi P đáp 01 vỏ chai bia về phía 04 nam thanh niên nhưng không trúng, được khoảng 01- 02km thì không đuổi nữa. Sau đó, H và T2 tách nhóm đi vào chợ H6 để T2 lấy tiền, các đối tượng còn lại tiếp tục đi đua xe trên tuyến đường N - T. T2 và H sau khi vào Chợ Hội Đ thì tiếp tục điều khiển xe mô tô đi ra khu vực đồi cỏ khách sạn N4, thấy có 01 xe Airblade chở 03 người cầm theo kiếm, T2 và Hoàng B1 còi, nói “lên mà đuổi” để khiêu khích. Nhóm này đuổi theo thì T2 điều khiển xe tăng ga bỏ chạy vào chợ H6. Sau đó, T2, H đi ra thì gặp các đối tượng còn lại trong nhóm H, lúc này khoảng 04 giờ cùng ngày. Sau đó, N1 chở P về chợ H6 và cùng H3, C, H, K1, T2 đi cất phóng lợn ở khu vực đê gần Khu đô thị E.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ các đoạn video do cháu Hoàng Đình Q1, sinh năm 2008, trú tại: Số H Phố G, xã G, thành phố Hải Phòng cung cấp, thể hiện nhóm H cùng các nhóm thanh niên khác điều khiển xe mô tô, cầm theo hung khí đuổi đuổi đánh nhau vào rạng sáng ngày 06/7/2025 tại khu vực đồi cỏ khách sạn N4. Tại Kết luận số 3994/KL-KTHS ngày 18/12/2025, Phòng K2, Công an thành phố H kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trên 02 tập tin Video có phần mở rộng “MP4”, tổng dung lượng 10,3 MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 32Gb đã qua sử dụng. Trích xuất 10 (mười) hình ảnh nghi liên quan vụ việc lập thành bản ảnh.

Vụ án xảy ra đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, các Ủy ban nhân dân phường T, Lê Thanh N2 và V, thành phố Hải Phòng có văn bản đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định.

Tại Cáo trạng số 115/CT-VKSHP-P2 ngày 22/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Huy H, Phạm Công C, Vũ Duy H3, Nguyễn Văn P tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/01/2026.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Công C từ 27 tháng đến 33 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Vũ Duy H3 từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo được hưởng án treo cho UBND xã, phường nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đối với các bị cáo được hưởng án treo.

Về vật chứng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo khai nhận hành vi như nêu trên và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo P đồng ý về tội danh, điều khoản pháp luật áp dụng đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp nhất có thể và cho bị cáo P hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Đêm ngày 05/7/2025, rạng sáng ngày 06/7/2025, Nguyễn Huy H, Phạm Công C, Vũ Duy H3, Nguyễn Văn P, Nguyễn Hải N1, Nguyễn Anh T2 (15 tuổi 10 tháng 23 ngày), Phạm Tuấn A (15 tuổi 04 tháng 17 ngày) cùng K1 và một số thanh niên (chưa xác định được lai lịch) mang theo hung khí là “phóng lợn”, kiếm, “đinh ba”, bình xịt hơi cay, vỏ chai bia, gậy dóc tre và điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao khoảng 90 km/h, rú ga, nẹt bô, lạng lách, đánh võng, hò hét, xịt hơi cay, đáp vỏ chai bia, giơ phóng lợn lên để truy cản, gây sự, đuổi đánh nhau trên đường giao thông với các nhóm thanh niên khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) trên các tuyến đường thuộc địa phận phường T, Lê Thanh N2 và V thành phố Hải Phòng, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn nơi công cộng, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Huy H, Phạm Công C, Vũ Duy H3 và Nguyễn Văn P đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ. Đây là vụ đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo đều là người thực hành.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Duy H3 có nhiều năm được tặng Giấy khen trong quá trình học tập; bị cáo Phạm Công C và Nguyễn Văn P tích cực tham gia hiến máu tình nguyện nên Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Huy H có 01 tiền sự. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112 ngày 28/8/2023, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt H số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (nộp phạt ngày 29/8/2023); tại Bản án hình sự phúc thẩm số 77/2025/HS-PT ngày 26/6/2025, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt H 06 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a, c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2026; do bị cáo H phạm tội khi dưới 18 tuổi nên được coi là không có án tích nhưng xác định bị cáo có nhân thân không tốt, ý thức chấp hành pháp luật kém. Các bị cáo Phạm Công C, Vũ Duy H3, Nguyễn Văn P không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Các bị cáo Vũ Duy H3, Nguyễn Văn P là người dưới 18 tuổi phạm tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi các bị cáo đã thực hiện, vai trò của các bị cáo trong vụ đồng phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Nguyễn Huy H có nhân thân không tốt, lần thứ hai phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Đối với các bị cáo Phạm Công C, Vũ Duy H3 và Nguyễn Văn P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho các bị cáo hưởng án treo cũng đạt được mục đích của hình phạt đồng thời thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Các bị cáo Vũ Duy H3, Nguyễn Văn P phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên để quyết định mức hình phạt.

Về vật chứng: Đối với “phóng lợn” và bình xịt hơi cay nhóm H sử dụng không thu giữ được; đối với xe môtô C sử dụng, C khai mượn của một người (không rõ nhân thân, lai lịch), sau đó C trả xe cho người này nên không thu giữ được. Đối với xe môtô T2 sử dụng, chủ xe là chị Cao Thị N3 (mẹ đẻ T2) không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị N3 nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Anh T2, Phạm Tuấn A là người dưới 16 tuổi, theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã có văn bản thông báo đến Công an xã nơi đối tượng cư trú để lập hồ sơ giáo dục tại xã nên không đặt ra giải quyết.

Đối với Nguyễn Hải N1, K1 và các đối tượng khác (hiện chưa xác định được lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định tách vụ án số 6168 ngày 25/3/2026 đối với hành vi của các đối tượng trên để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo quy định của pháp luật nên không xét.

Đối với chị Cao Thị N3 (sinh năm 1979, trú tại: Thôn N, xã T, thành phố Hải Phòng, là mẹ đẻ Nguyễn Anh T2) không biết T2 sử dụng xe môtô biển số 34AK-03391 để thực hiện hành vi phạm tội nên không đặt ra việc xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huy H.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Công C.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Vũ Duy H3, Nguyễn Văn P.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.

2. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy H, Phạm Công C, Vũ Duy H3 và Nguyễn Văn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

3. Về hình phạt:

3.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/01/2026.

3.2. Xử phạt bị cáo Phạm Công C 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Công C cho UBND phường L, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

3.3. Xử phạt bị cáo Vũ Duy H3 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Duy H3 cho UBND xã H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

3.4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho UBND xã C, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

4. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

5. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đã áp dụng đối với các bị cáo Phạm Công C, Vũ Duy H3 và Nguyễn Văn P.

6. Về án phí: Buộc Nguyễn Huy H, Phạm Công C, Vũ Duy H3 và Nguyễn Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ