vanban.org

Bản án 137/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào các Điều 136, 260, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

C n cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 ph m tội “Cướp tài sản”; tuyên bố các bị cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng K và đồng phạm phạm tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào các Điều 136, 260, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-ST
Ngày: 10-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Minh Trí;

Bà Nguyễn Thị Nữ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 n m 2024, t i tr s Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 88/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 n m 2024, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 n m 2024 và Quyết định Hoãn phiên toà số 120/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 6 n m 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đăng K, sinh n m 2000, t i tỉnh Bình Dương; nơi đ ng ký thường trú và chỗ : Tổ A, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V n P (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị t m giữ từ ngày 16/02/2023, sau đó chuyển sang t m giam cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Tây H, sinh n m 2004, t i tỉnh An Giang; nơi đ ng ký thường trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ : Khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước H1 và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị t m giữ từ ngày 16/02/2023, sau đó chuyển sang t m giam cho đến nay, có mặt.

3. Họ và tên: Đặng Đăng K1, sinh n m 2002, t i tỉnh B c Liêu; nơi đ ng ký thường trú: Ấp T, xã V, huyện H, tỉnh B c Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định) và bà Đặng Hồng T1; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 19/9/2022, bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là T), tỉnh Bình Dương áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc với thời h n 15 tháng, theo Quyết định số 14/2022/QĐ-TA; trong thời gian chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc t i Cơ s cai nghiện tỉnh Bình Dương thì ngày 19/12/2022, Đặng Đ ng K1 bỏ trốn. Bị cáo bị t m giữ từ ngày 17/02/2023, sau đó chuyển sang t m giam cho đến nay, có mặt.

4. Họ và tên: Ngô Văn K2, sinh n m 1989 t i tỉnh Bình Dương; nơi đ ng ký thường trú và chỗ : Số A, Khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô V n T2 và bà Lê Thị Đ; có vợ: Đặng Thị K3 (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh n m 2010; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 02/7/2019, bị Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T ra Quyết định áp d ng biện pháp giáo d c t i phường về hành vi Sử d ng trái phép chất ma túy.

- Ngày 22/9/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định kh i tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định t i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017). Ngày 25/4/2024 bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xử ph t 04 (bốn) n m tù về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo Bản án số 70/2024/HS-ST.

Bị cáo bị t m giữ từ ngày 17/02/2023, sau đó chuyển qua t m giam, đến ngày 16/5/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện đang bị t m giam trong v án Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo có mặt t i phiên toà.

5. Họ và tên: Nguyễn Hữu B, sinh n m 1990, t i tỉnh Bình Dương; nơi đ ng ký thường trú và chỗ : Tổ A, khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V n B1 và bà Lê Thị T3; chung sống với chị Nguyễn Thị H2 nhưng không đ ng ký kết hôn và có một người con sinh n m 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 03/6/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử ph t 01 n m tù về tội Cướp giật tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2014/HS-ST.

- Ngày 19/01/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc với thời h n 18 tháng về hành vi Sử d ng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 04/QĐ-TA.

- Ngày 14/10/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc với thời h n 16 tháng về hành vi Sử d ng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 59/QĐ-TA.

- Ngày 23/01/2024, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử ph t 01 n m 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST. Hiện đang chấp hành hình ph t tù.

Bị cáo có mặt t i phiên toà.

- Bị hại:

+ Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh n m 1991; cư trú t i: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

+ Anh Lê M nh D, sinh n m 1994; cư trú t i: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1, sinh n m 2002; cư trú t i: Xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Dương Minh T4, sinh n m 2001; cư trú t i: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.

+ Chị Đặng Vĩ N2, sinh n m 2004; cư trú t i: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.

+ Anh Đào V n T5, sinh n m 1986; đ ng ký thường trú: Xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; t m trú: C n hộ số HL-F7.99.04 thuộc Khu N B, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Th ch Kim T6, sinh n m 1992; cư trú t i: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

+ Ông Lê Thế H3, sinh n m 1978; cư trú t i: Số A, Đường số C, Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

+ Bà Đỗ Thị Kim L, sinh n m 1975; cư trú t i: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Ông Ngô V n T2, sinh n m 1966; cư trú t i: Số A, Khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Bà Lê Thị T3, sinh n m 1968; cư trú t i: Tổ A, khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị C, sinh n m 1969; cư trú t i: Tổ D, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Anh Nguyễn Trọng Đ1, sinh n m 1996 và chị Dương Thị Minh H4, sinh n m 2000; cùng cư trú t i: Tổ A, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh n m 1979; cư trú t i: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.

+ Anh Nguyễn Nhật H5, sinh n m 2001; cư trú t i: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.

+ Anh Võ V n Q, sinh n m 1986; cư trú t i: Tổ D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị Ú, sinh n m 1988; cư trú t i: Tổ D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ v án và quá trình xét hỏi t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B có mối quan hệ quen biết và đều là các đối tượng nghiện ma túy. Trong khoảng thời gian từ ngày 09/02/2023 đến ngày 16/02/2023, Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 thực hiện nhiều v Cướp tài sản trên địa bàn thành phố T rồi đem bán cho người khác và nhờ Ngô V n K2, Nguyễn Hữu B bán cho người khác để lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, c thể như sau:

1. Vụ thứ 1: Khoảng 01 giờ ngày 09/02/2023, Nguyễn Đ ng K điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen (chưa xác định rõ biển số) ch Nguyễn Tây H đi tìm tài sản chiếm đo t. Khi K và H đi trên đường N, đến đo n qua Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh n m 1991, đ ng ký thường trú t i ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang đang điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c, biển số 84B1-779.30 lưu thông phía trước cùng chiều trên đường N nên cả hai nảy sinh ý định chiếm đo t xe mô tô của chị N. Lúc này, Nguyễn Đ ng K điều khiển xe mô tô ch y áp sát và ép ngã xe mô tô của chị N, còn H dùng 01 (một) con dao tự chế cán màu đen, dài khoảng 30cm chỉ vào người chị N và yêu cầu xuống xe nhưng chị N nắm giữ đuôi xe thì H dùng tay hất tay chị N ra rồi lên xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 84B1-779.30 của chị N và điều khiển tẩu thoát cùng với Nguyễn Đ ng K. Sau đó, K và H đem xe mô tô chiếm đo t của chị N về nhà trọ Hào cất giấu và tháo biển số 84B1-779.30 vứt bỏ.

C n cứ Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố t ng hình sự thành phố T, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c, số khung RLCUG1010KY181608, số máy G3D4E949952, trị giá 29.000.000 (hai mươi chín triệu) đồng.

2. Vụ thứ 2: Khoảng 02 giờ ngày 14/02/2023, Nguyễn Đ ng K điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen (chưa xác định rõ biển số) đi trên đường P, đến đo n qua Khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy anh Lê M nh D, sinh n m 1994, đ ng ký thường trú t i khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương và chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1, sinh n m 2002, đ ng ký thường trú t i xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước đang dựng xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54 trên vỉa hè và ngồi nói chuyện nên Nguyễn Đ ng K nảy sinh ý định chiếm đo t tài sản của anh D và chị N1. Lúc này, Nguyễn Đ ng K gọi điện tho i cho Nguyễn Tây H và chỉ chỗ cho Nguyễn Tây H đến để chiếm đo t tài sản. Sau đó, Nguyễn Tây H đem theo 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c, không gắn biển số (xe đã chiếm đo t của chị Nguyễn Thị Hồng N) ch Đặng Đ ng K1 đến nơi Nguyễn Đ ng K đã chỉ chỗ gặp anh D và chị N1. T i đây, Đặng Đ ng K1 và Nguyễn Tây H dùng dao đe dọa và chiếm đo t 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54; 01 điện tho i di động hiệu Iphone XR, màu trắng, lo i 64GB của anh D và 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, màu trắng, lo i 64GB; 01 cái ví da nữ, màu đen bên trong đó có các giấy tờ cá nhân, thẻ ATM và số tiền 2.300.000 (hai triệu, ba tr m nghìn) đồng của chị N1. Quá trình Đặng Đ ng K1 và Nguyễn Tây H đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đo t tài sản của anh D và chị N1 thì Nguyễn Đ ng K đậu xe mô tô đứng khu vực gần đó để cảnh giới cho Đặng Đ ng K1 và H. Sau khi chiếm đo t tài sản của anh D và chị N1, Đặng Đ ng K1 đem điện tho i di động hiệu Iphone XR, màu trắng, lo i 64GB bán cho một cửa hàng điện tho i (không nhớ tên hiệu và địa chỉ) được số tiền 400.000 (bốn tr m nghìn) đồng, còn H đem điện tho i di động hiệu Iphone 11, màu trắng, lo i 64GB tìm nơi bán nhưng chưa bán được. Đối với xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54 thì H tháo biển số 61K1-111.54 cất giữ và Đặng Đ ng K1 nhờ Ngô V n K2 đem bán xe mô tô giùm thì K2 đồng ý. Sau đó, K2 liên l c với Nguyễn Hữu B nhờ B tìm người bán giùm xe mô tô trên thì B đồng ý (đối với Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B mặc dù nhận biết rõ xe mô tô nêu trên do Đặng Đ ng K1, Nguyễn Tây H ph m tội Cướp tài sản mà có nhưng vẫn đồng ý giúp cho Đặng Đ ng K1, Nguyễn Tây H bán xe mô tô nêu trên). Tiếp đó, B liên hệ để bán xe mô tô trên cho người nam tên T7 (hiện chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) với giá tiền là 6.000.000 (sáu triệu) đồng và B nói cho K2 biết là B sẽ lấy tiền công bán là 1.000.000 (một triệu) đồng, K2 đồng ý. Sau đó, Ngô V n K2 ch Đặng Đ ng K1 đem xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54 (lúc này đã tháo biển số) đến khu vực cây x ng, địa chỉ t i phường H, thành phố T giao xe cho người nam tên T7. Số tiền bán xe được người nam tên T7 chuyển đến tài khoản số 9985370237 của Ngân hàng V cấp cho Nguyễn Hữu B. Lúc này, Bá giữ lấy tiền công bán xe mô tô là 1.000.000 (một triệu) đồng và chuyển cho K2 số tiền 5.000.000 (n m triệu) đồng qua tài khoản số 050130697000 của Ngân hàng S cấp cho Ngô V n K2 rồi K2 đưa cho H 3.500.000 đồng, đưa cho Đặng Đ ng K1 số tiền 300.000 đồng, còn 1.200.000 đồng thì K2 cất giữ.

C n cứ Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố t ng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54, trị giá 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu Iphone XR, màu trắng, lo i 64GB, trị giá 4.000.000 (bốn triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, màu trắng, lo i 64GB, trị giá 5.000.000 (n m triệu) đồng; 01 cái ví da nữ, màu đen, kích thước 11,2cm x 7,5cm x 0,5cm, trị giá 100.000 (một tr m nghìn) đồng.

3. Vụ thứ 3: Khoảng 18 giờ ngày 14/02/2023, sau khi chiếm đo t xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54 thì Nguyễn Đ ng K đi đến nhà của Nguyễn Tây H để mượn xe mô tô trên để đi làm t i kho Mapple Tree trong Khu Công nghiệp B, địa chỉ t i Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì H đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày 14/02/2023, Nguyễn Đ ng K điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54 ch Nguyễn Tây H đi tìm tài sản chiếm đo t. Khi Nguyễn Đ ng K và H đi trên đường H, đến đo n trong Khu Công nghiệp B thì Nguyễn Đ ng K và H nhìn thấy anh Nguyễn Dương Minh T4, sinh n m 2001, đ ng ký thường trú t i thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận và chị Đặng Vĩ N2, sinh n m 2004, đ ng ký thường trú t i thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận đang ngồi vỉa hè trên đường H nên cả hai bàn nhau cùng chiếm đo t tài sản của anh T4 và chị N2. Lúc này, Nguyễn Đ ng K điều khiển xe mô tô áp sát chỗ anh T4 và chị N2 đang ngồi để Nguyễn Tây H bước xuống xe mô tô dùng 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen đe dọa và yêu cầu anh T4 và chị N2 đưa tài sản. Do lo sợ nên chị N2 đưa 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y15A, màu xanh dương và anh T4 đưa 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu trắng cho Nguyễn Đ ng K thì K lấy bỏ vào túi quần. Sau khi chiếm đo t tài sản của anh T4 và chị N2 thì Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H điều khiển xe mô tô tẩu thoát về nhà của Nguyễn Đ ng K. T i đây, Nguyễn Đ ng K đưa cho H 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu trắng thì H đem bán cho một người thu mua phế liệu (hiện không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) được số tiền 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng, còn Nguyễn Đ ng K cất giữ 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y15A, màu xanh dương.

C n cứ Bản kết luận định giá tài sản số 184/KL-HĐĐGTS ngày 01/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố t ng hình sự thành phố T, kết luận: 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu trắng, trị giá 5.000.000 (n m triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y15A, màu xanh dương, trị giá 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng.

4. Vụ thứ 4: Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 16/02/2023, anh Đào V n T5, sinh n m 1986, đ ng ký thường trú t i xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; hiện t m trú t i C n hộ số HL-F7.99.04 thuộc Khu N B, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen-đỏ, biển số 67F1-289.05 đi đến đo n đường vắng không tên (gần Trường mầm non H6) thuộc Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì anh T5 ngừng và tắt máy xe nhưng vẫn để chìa khóa trên xe mô tô rồi đi vệ sinh. Khi anh T5 đi vệ sinh xong và quay l i ngồi lên xe mô tô thì bị Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c (gắn biển số 61K1-111.54) áp sát. Lúc này, H dùng 01 (một) con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen kề vào cổ anh T5 và kéo anh T5 xuống đường rồi yêu cầu anh T5 đưa tài sản. Do hoảng sợ nên anh T5 lấy 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y20S, màu nâu; 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu đen và 01 ví nam màu vàng bên trong có nhiều giấy tờ cá nhân và tiền Việt Nam đưa cho H. Tiếp đó, H kêu anh T5 quay lưng l i H rồi H ch y l i xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen-đỏ, biển số 67F1-289.05 của anh T5 nổ máy tẩu thoát cùng với Nguyễn Đ ng K. Sau đó, Nguyễn Đ ng K kiểm tra ví da thì thấy bên trong có số tiền khoảng 66.000đ (sáu mươi sáu nghìn đồng) nên Nguyễn Đ ng K lấy số tiền trên còn ví da thì vứt bỏ. Đối với xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen-đỏ, biển số 67F1-289.05 thì Nguyễn Đ ng K kêu H ch y về nhà trọ của H cất giữ và Nguyễn Đ ng K đưa cho H 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu đen, còn 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y20S, màu nâu thì Nguyễn Đ ng K cất giữ.

Sau khi bị chiếm đo t ví tiền, các điện tho i di động và xe mô tô, anh T5 dùng điện tho i khác liên l c vào số điện tho i mình đã bị chiếm đo t xin chuộc l i xe mô tô thì Nguyễn Đ ng K yêu cầu anh T5 chuyển số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng vào tài khoản của Nguyễn Đ ng K thì K sẽ trả l i xe mô tô. Anh T5 đồng ý nên Nguyễn Đ ng K yêu cầu anh T5 chuyển tiền vào tài khoản của chủ tiệm nhận chuyển tiền 68 là ông Lê Thế H3, sinh n m 1978, đ ng ký thường trú t i Số A, Đường số C, Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để Nguyễn Đ ng K lấy tiền chuộc xe. Sau đó, anh T5 trình báo sự việc đến Công an phường H. Đến khoảng 14 giờ ngày 16/02/2023, anh T5 chuyển số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng vào tài khoản của ông H3. Nhận được điện báo của Công an phường H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chủ trì và phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra và đến tiệm chuyển tiền 68 thì phát hiện Nguyễn Đ ng K đang đến để rút số tiền mà anh T5 đã chuyển vào tài khoản của ông H3 và trong người Nguyễn Đ ng K có giữ chiếc điện tho i di động hiệu ViVo Y20S, màu nâu của anh T5 nên lực lượng Công an đã yêu cầu Nguyễn Đ ng K về tr s làm việc. Qua làm việc, Nguyễn Đ ng K khai nhận thực hiện hành vi chiếm đo t tài sản của anh T5 cùng với Nguyễn Tây H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đến nơi của H t i Tổ A, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương xác minh và thu giữ được số vật chứng, gồm: 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen-đỏ, biển số 67F1-289.05; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c (gắn biển số 61K1-111.54); 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu đen; 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen mà H dùng để đe dọa anh T5 chiếm đo t tài sản. Cùng ngày 16/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thực hiện Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và ngày 17/02/2023 thực hiện Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đặng Đ ng K1.

Đối với Ngô V n K2, ngày 17/02/2023 sau khi biết tin Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 bị bắt nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xin đầu thú về hành vi biết rõ xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54 do Đặng Đ ng K1 và Nguyễn Tây H chiếm đo t của người khác nhưng đã giúp cho Đặng Đ ng K1 và Nguyễn Tây H bán xe mô tô trên để thu lợi. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T còn thu giữ được số vật chứng, gồm: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, số khung RLCS5C6K0EY175709, số máy 5C6K-175712; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-620.67; 01 điện tho i di động hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng; 01 điện tho i di động hiệu Nokia 1280, màu xanh-đen; 01 điện tho i di động hiệu OPPO A54, màu xanh; 01 C n cước công dân tên Nguyễn Đ ng K và 01 ví màu đen; 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y20S, màu nâu; số tiền 3.604.000đ (ba triệu, sáu tr m lẻ bốn nghìn) đồng.

C n cứ Bản kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố t ng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen-đỏ, biển số 67F1-289.05, trị giá 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu đen, trị giá 5.000.000 (n m triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y20S, màu nâu, trị giá 2.000.000 (hai triệu) đồng; 01 ví da nam màu vàng, trị giá 10.000 (mười nghìn) đồng.

* Xử lý vật chứng và giải quyết dân sự:

- V thứ 1: Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c, số khung RLCUG1010KY181608, số máy G3D4E949952 do anh Th ch Kim T6, sinh n m 1992, đ ng ký thường trú t i ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh đứng tên trên giấy chứng nhận đ ng ký xe mô tô (anh T6 là chồng của chị N). Ngày 28/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã lập biên bản giao trả xe mô tô trên cho anh T6. Hiện t i, chị N yêu cầu bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô trên số tiền là 10.000.000 (mười triệu đồng). Hiện t i, Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H chưa bồi thường tiền cho chị N.

- V thứ 2: Đối với biển số 61K1-111.54 và 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, màu trắng, lo i 64GB, quá trình điều tra xác định: Biển số trên do bà Đỗ Thị Kim L, sinh n m 1975, đ ng ký thường trú t i ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương đứng tên trên Giấy chứng nhận đ ng ký xe (bà L là mẹ của anh Lê M nh D) nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển biển số nêu trên đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố T để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định trả l i biển số 61K1-111.54 cho bà Đỗ Thị Kim L. Đối với điện tho i di động hiệu Iphone 11, màu trắng, lo i 64GB, ngày 30/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã lập biên bản giao trả điện tho i di động trên cho chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1. Quá trình điều tra, anh Lê Minh D1 yêu cầu Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 bồi thường số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng là tiền chiếm đo t điện tho i di động hiệu Iphone XR, màu trắng, lo i 64GB. Đối với chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1 yêu cầu bồi thường số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng, bao gồm: Tiền ví da nữ, màu đen là 1.200.00 (một triệu, hai tr m nghìn) đồng; số tiền trong ví da bị chiếm đo t là 5.000.000 (n m triệu) đồng; số tiền bị rút trong tài khoản của chị N1 là 14.800.000 (mười bốn triệu, tám tr m nghìn) đồng và tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000 (n m triệu) đồng. Đối với yêu cầu trên của chị N1, hiện không có c n cứ để xác định Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 chiếm đo t số tiền trong ví da bị chiếm đo t là 5.000.000 (n m triệu) đồng và số tiền bị rút trong tài khoản của chị N1 là 14.800.000 (mười bốn triệu, tám tr m nghìn) đồng. Hiện t i, Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 chưa bồi thường cho anh D1 và chị N1.

- V thứ 3: Đối với điện tho i di động hiệu ViVo Y15A, màu xanh dương, ngày 30/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã lập biên bản giao trả điện tho i di động trên cho chị Đặng Vĩ N2. Quá trình điều tra, anh T4 yêu cầu bồi thường số tiền 11.500.000 (mười một triệu, n m tr m nghìn) đồng là tiền anh T4 mua điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu trắng và chị N2 yêu cầu tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 1.000.000 (một triệu) đồng. Hiện t i, Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H chưa bồi thường cho anh T4 và chị N2.

- V thứ 4: Đối với xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen-đỏ, biển số 67F1-289.05; 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu đen và 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y20S, màu nâu; ngày 30/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã lập biên bản giao trả xe mô tô và 02 điện tho i di động nêu trên cho anh Đào V n T5. Quá trình điều tra, anh T5 yêu cầu bồi thường số tiền 3.903.000 (bốn triệu, chín tr m lẻ ba nghìn) đồng là số tiền trong ví da của anh T5 bị chiếm đo t và 1.000.000 (một triệu) đồng anh T5 đã chuyển khoản vào tài khoản của ông H3 theo yêu cầu của bị cáo. Đối với yêu cầu trên của anh T5, hiện không có c n cứ để xác định Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H đã chiếm đo t số tiền số tiền 4.903.000 (bốn triệu, chín tr m lẻ ba nghìn) đồng trong ví da của anh T5. Hiện t i, Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H chưa bồi thường cho anh T5.

Quá trình điều tra, ông Lê Thế H3 giao nộp số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng; ông Ngô V n T2, sinh n m 1966, đ ng ký thường trú t i Số A, Khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương là cha ruột của Ngô V n K2 giao nộp số tiền 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng; bà Lê Thị T3, sinh n m 1968, đ ng ký thường trú t i Tổ A, khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương là mẹ ruột của Nguyễn Hữu B giao nộp số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng; bà Nguyễn Thị C, sinh n m 1969, đ ng ký thường trú t i Tổ D, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương là mẹ ruột của Nguyễn Đ ng K và anh Nguyễn Trọng Đ1, sinh n m 1996, đ ng ký thường trú t i Tổ A, khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương là anh ruột của Nguyễn Đ ng K giao nộp tổng số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; bà Nguyễn Thị T, sinh n m 1979, đ ng ký hộ khẩu thường trú t i ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang là mẹ ruột của Nguyễn Tây H giao nộp số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) và anh Nguyễn Nhật H5, sinh n m 2001, đ ng ký thường trú t i ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang là anh ruột của Nguyễn Tây H giao nộp Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một số tiền 8.000.000 (tám triệu đồng) nhằm bồi thường thiệt h i, khắc ph c hậu quả cho các bị h i và số tiền 3.604.000 (ba triệu, sáu tr m lẻ bốn nghìn) đồng đã thu giữ của Nguyễn Đ ng K. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển các số tiền nêu trên đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định trả l i cho các bị h i.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, số khung RLCS5C6K0EY175709, số máy 5C6K-175712 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-620.67, quá trình điều tra xác định: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-620.67 do chị Nguyễn Thị T8, sinh n m 1985, đ ng ký thường trú t i ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên trên Giấy chứng nhận đ ng ký xe. Ngày 20/12/2022, chị T8 bị lấy trộm xe mô tô trên t i ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai để th lý giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, số khung RLCS5C6K0EY175709, số máy 5C6K-175712 do anh Lê Trọng P1, đ ng ký hộ khẩu thường trú t i thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đứng tên trên Giấy chứng nhận đ ng ký xe. Qua xác minh, t i thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa không có Lê Trọng P1 sinh sống. Chị Dương Thị Minh H4, sinh n m 2000, đ ng ký thường trú t i xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long là chị dâu của Nguyễn Đ ng K cho biết xe mô tô trên do chị H4 mua l i từ tiệm cầm đồ (không xác định rõ địa chỉ) t i phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương nhưng không làm giấy tờ mua bán. Sau khi mua xe, chị H4 cho Nguyễn Đ ng K mượn để làm phương tiện đi l i. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đ ng B2 để truy tìm chủ s hữu nhưng hiện t i không có ai đến để liên hệ giải quyết. Xét thấy xe mô tô trên là phương tiện do Nguyễn Đ ng K sử d ng để thực hiện hành vi ph m tội Cướp tài sản nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T ra Quyết định chuyển xe mô tô nêu trên đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện tho i di động hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng; 01 C n cước công dân tên Nguyễn Đ ng K và 01 ví màu đen là tài sản cá nhân của Nguyễn Đ ng K. Đối với 01 điện tho i di động hiệu Nokia 1280, màu xanh-đen là tài sản cá nhân của anh Nguyễn Trọng Đ1. Đối với 01 điện tho i di động hiệu OPPO A54, màu xanh là điện tho i của Ngô V n K2 dùng để liên hệ với Nguyễn Hữu B nhằm thực hiện hành vi Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có. Đối với 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen là hung khí Nguyễn Tây H dùng để thực hiện hành vi Cướp tài sản nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T ra Quyết định chuyển các vật chứng nêu trên đến Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện tho i di động hiệu OPPO A54, màu xanh; tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen và trả l i cho Nguyễn Đ ng K 01 điện tho i di động hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng; 01 C n cước công dân tên Nguyễn Đ ng K và 01 ví màu đen; trả l i cho anh Nguyễn Trọng Đ1 01 điện tho i di động hiệu Nokia 1280, màu xanh-đen.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H còn khai nhận thực hiện 01 v Cướp tài sản t i giao lộ đường H và đường T thuộc Khu Công nghiệp B, Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, c thể như sau: Khoảng 01 giờ sáng không rõ ngày giữa tháng 01/2023, Nguyễn Đ ng K điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen (không rõ biển số) ch Nguyễn Tây H đi từ Khu Công nghiệp B về nhà trọ của H t i phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Khi Nguyễn Đ ng K và H đi đến giao lộ đường H và đường T thì nhìn thấy 01 (một) người nam (hiện chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) đang nằm trên bãi cỏ khu vực vòng xoay trên tay có cầm 01 điện tho i di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng, lo i 64GB nên Nguyễn Đ ng K và H rủ nhau cùng chiếm đo t điện tho i di động trên của người nam. Lúc này, Nguyễn Đ ng K điều khiển xe mô tô ch H đi đến để H nói chuyện với người nam và H cầm 01 dao rọc giấy, màu b c, dài khoảng 15cm chỉ về hướng người nam rồi yêu cầu đưa tất cả tài sản đang có trên người thì người nam đưa điện tho i di động hiệu Iphone XSMax, màu trắng, lo i 64GB đang cầm trên tay cho Nguyễn Đ ng K. Tiếp đó, người nam tháo 02 chiếc nhẫn bằng kim lo i, màu b c đưa cho Nguyễn Đ ng K thì K lấy 02 chiếc nhẫn rồi điều khiển xe mô tô ch H tẩu thoát. Trên đường đi, Nguyễn Đ ng K phát hiện 02 chiếc nhẫn bằng kim lo i, màu trắng vừa cướp được là nhẫn inox không có giá trị nên vứt xuống bãi cỏ ven đường, còn điện tho i di động thì đưa cho H cất giữ. Đến sáng ngày hôm sau, H đưa l i điện tho i di động hiệu Iphone XSMax, màu trắng, lo i 64GB cho Nguyễn Đ ng K thì K đem đến tiệm Đ2, địa chỉ t i Số D, Đường số B, Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương bán cho anh Phan Minh L1, sinh n m 1990, đ ng ký thường trú t i Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương được số tiền 1.600.000 (một triệu, sáu tr m nghìn) đồng. Sau đó, Nguyễn Đ ng K đưa cho H số tiền 800.000 (tám tr m nghìn) đồng và K giữ số tiền 800.000 (tám tr m nghìn) đồng rồi cả hai tiêu xài cá nhân hết. Đối với điện tho i di động nêu trên, do sau khi mua điện tho i của Nguyễn Đ ng K thì anh L1 đã bán điện tho i trên cho người khác (chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không thu hồi được. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra thông báo truy tìm bị h i nhưng đến nay vẫn chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú của bị h i nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp t c xác minh, làm rõ và xử lý khi có đủ c n cứ. Đối với anh Phan Minh L1, quá trình điều tra xác định: Khi Nguyễn Đ ng K đem điện tho i di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng, lo i 64GB đến bán thì anh L1 không biết điện tho i trên do K ph m tội Cướp tài sản mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không đề cập xử lý.

Đối với đối tượng tên T7 đã mua xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh (không gắn biển số) của Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B, do quá trình điều tra không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp t c xác minh, làm rõ và xử lý sau khi có đủ c n cứ.

Cáo tr ng số 97/CT-VKSTDM ngày 16 tháng 4 n m 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H về tội Cướp tài sản theo điểm d, đ khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017); truy tố bị cáo Đặng Đ ng K1 về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017) và truy tố các bị cáo Ngô V n K2, Nguyễn Hữu B về tội Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Tại phiên tòa,

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 ph m tội “Cướp tài sản”; tuyên bố các bị cáo Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B ph m tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”.

Về hình phạt:

+ Áp d ng điểm d, đ khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017):

Xử ph t bị cáo Nguyễn Đ ng K mức hình ph t từ 09 (chín) n m đến 10 (mười) n m tù.

Xử ph t bị cáo Nguyễn Tây H mức hình ph t từ 08 (tám) n m 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) n m 06 (sáu) tháng tù.

+ Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Đặng Đ ng K1 mức hình ph t từ 07 (bảy) n m đến 08 (tám) n m tù.

+ Áp d ng khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Ngô V n K2 mức hình ph t từ 01 (một) n m đến 01 (một) n m 03 (ba) tháng tù. Áp d ng Điều 56 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t 04 (bốn) n m tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung từ 05 (n m) n m đến 05 (n m) n m 03 (ba) tháng tù.

+ Áp d ng khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017): Xử ph t bị cáo Nguyễn Hữu B mức hình ph t từ 01 (một) n m đến 01 (một) n m 03 (ba) tháng tù. Áp d ng Điều 56 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t 01 (một) n m 06 (sáu) tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung từ 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) n m 09 (chín) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); Điều 589 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H phải liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền là 10.000.000 (mười triệu đồng); bồi thường cho anh Nguyễn Dương Minh T4 số tiền là 11.500.000 (mười một triệu, n m tr m nghìn) đồng; bồi thường cho chị Đặng Vĩ N2 số tiền là 1.000.000 (một triệu) đồng và bồi thường cho anh Đào V n T5 số tiền 3.903.000 (ba triệu, chín tr m lẻ ba nghìn) đồng.

+ Buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 phải liên đới bồi thường cho anh Lê M nh D số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng và bồi thường cho chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1 số tiền là 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng.

+ Buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B phải liên đới bồi thường cho bà Đỗ Thị Kim L số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng.

Về biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, số khung RLCS5C6K0EY175709, số máy 5C6K-175712; 01 (một) điện tho i di động hiệu OPPO A54, màu xanh thu giữ của Ngô V n K2.

+ Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen.

+ Trả l i cho bị cáo Nguyễn Đ ng K: 01 (một) C n cước công dân tên Nguyễn Đ ng K và 01 ví màu đen. Trả cho anh Nguyễn Trọng Đ1 01 (một) điện tho i di động hiệu Nokia 1280, màu xanh-đen. Trả l i cho bà Đỗ Thị Kim L biển số 61K1-111.54 và trả l i cho anh Đào V n T5 số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng do ông Lê Thế H3 giao nộp.

Tiếp t c t m giữ 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng và số tiền 3.604.000 (ba triệu, sáu tr m lẻ bốn nghìn) đồng đã thu giữ của Nguyễn Đ ng K; số tiền 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng do ông Ngô V n T2 là cha ruột của Ngô V n K2 giao nộp; số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng do bà Lê Thị T3 là mẹ ruột của Nguyễn Hữu B giao nộp; số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng do bà Nguyễn Thị C là mẹ ruột và anh Nguyễn Trọng Đ1 là anh ruột của Nguyễn Đ ng K giao nộp; số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng do bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột và anh Nguyễn Nhật H5 là anh ruột của Nguyễn Tây H giao nộp để đảm bảo thi hành án.

- T i phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đ i diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình ph t và mức hình ph t đã đề nghị.

- Bị h i anh Đào V n T5: Yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H có trách nhiệm bồi thường cho anh Đào V n T5 số tiền 3.903.000 (ba triệu, chín tr m lẻ ba nghìn) đồng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H.

- Trong nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, những người tham gia tố t ng không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, hành vi và quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố t ng: T i phiên toà, vắng mặt những bị h i gồm: Chị Nguyễn Thị Hồng N, anh Lê M nh D, chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1, anh Nguyễn Dương Minh T4, chị Đặng Vĩ N2 và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án gồm: Anh Thách Kim T9, ông Lê Thế H3, bà Đỗ Thị Kim L, anh Võ V n Q, bà Bùi Thị Ú. Nhưng, những người này đã có lời khai trình bày ý kiến của mình trong hồ sơ v án nên việc vắng mặt họ không làm ảnh hư ng đến việc giải quyết v án. Do đó, c n cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp t c xét xử v án vắng mặt những người có tên nêu trên.

T i phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội. Lời khai của các bị cáo t i phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo t i cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của các bị h i và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 09/02/2023 đến ngày 16/02/2023, các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H đã cùng nhau nhiều lần thực hiện hành vi dùng hung khí nguy hiểm là 01 (một) con dao tự chế cán màu đen, dài khoảng 30cm đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đo t tài sản của các bị h i; bị cáo Đặng Đ ng K1 một lần thực hiện hành vi cùng với Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H dùng hung khí nguy hiểm là 01 (một) con dao tự chế cán màu đen, dài khoảng 30cm đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đo t tài sản của các bị h i. Các bị cáo Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B biết tài sản do Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 ph m tội mà có nhưng vẫn giúp cho Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 bán tài sản. Các bị cáo thực hiện các hành vi trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương, c thể như sau:

- V thứ 1: Khoảng 01 giờ ngày 09/02/2023, t i đường N, đo n qua Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 (một) con dao tự chế cán màu đen, dài khoảng 30cm đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đo t 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c, biển số 84B1-779.30, trị giá 29.000.000 (hai mươi chín triệu) đồng của bị h i chị Nguyễn Thị Hồng N.

- V thứ 2: Khoảng 02 giờ ngày 14/02/2023, t i đường P, đo n qua Khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 (một) con dao lưỡi bằng kim lo i màu trắng, dài khoảng 30cm đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đo t 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54, trị giá 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu Iphone XR, màu trắng, lo i 64GB, trị giá 4.000.000 (bốn triệu) đồng của bị h i anh Lê Minh D1 và 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, màu trắng, lo i 64GB, trị giá 5.000.000 (n m triệu) đồng; 01 cái ví da nữ, màu đen, kích thước 11,2cm x 7,5cm x 0,5cm, trị giá 100.000 (một tr m nghìn) đồng bên trong có số tiền 2.300.000 (hai triệu, ba tr m nghìn) đồng của bị h i chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1. Tổng trị giá tài sản chiếm đo t của bị h i Lê Minh D1 là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng và bị h i Nguyễn Lê Vũ Yến N1 là 7.400.000 (bảy triệu, bốn tr m nghìn) đồng. Sau đó, bị cáo Đặng Đ ng K1 nhờ các bị cáo Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B đem xe mô tô cướp được nêu trên đến khu vực cây x ng, địa chỉ t i phường H, thành phố T bán cho đối tượng tên T7 (hiện chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) được số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Đối với các bị cáo Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B mặc dù nhận biết rõ xe mô tô nêu trên do các bị cáo Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 ph m tội Cướp tài sản mà có nhưng vẫn đồng ý giúp cho các bị cáo Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 bán xe mô tô nêu trên.

- V thứ 3: Khoảng 23 giờ ngày 14/02/2023, t i đường H, đo n thuộc Khu Công nghiệp B, địa chỉ t i khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 con dao dài khoảng 30 cm, cán bằng nhựa màu đen đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đo t 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu trắng, trị giá 5.000.000 (n m triệu) đồng của bị h i anh Nguyễn Dương Minh T4 và 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y15A, màu xanh dương, trị giá 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng của bị h i chị Đặng Vĩ N2.

- V thứ 4: Khoảng 03 giờ 15 phút ngày 16/02/2023, t i đo n đường vắng không tên (gần Trường mầm non H6) thuộc Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H đã dùng hung khí nguy hiểm là 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đo t 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, màu đen-đỏ, biển số 67F1-289.05, trị giá 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu đen, trị giá 5.000.000 (n m triệu) đồng; 01 điện tho i di động hiệu ViVo Y20S, màu nâu, trị giá 2.000.000 (hai triệu) đồng và 01 ví da nam màu vàng, trị giá 10.000 (mười nghìn) đồng bên trong có số tiền 66.000 (sáu mươi sáu nghìn) đồng của bị h i Đào V n T5. Tổng trị giá tài sản chiếm đo t của bị h i T5 là 34.076.000 (ba mươi bốn triệu, không tr m bảy mươi sáu nghìn) đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H chiếm đo t của các bị h i là 106.976.000 (một tr m lẻ sáu triệu, chín tr m bảy mươi sáu nghìn) đồng; tổng giá trị tài sản mà bị cáo Đặng Đ ng K1 chiếm đo t của bị h i Lê M nh D và Nguyễn Lê Vũ Yến N1 là 37.400.000 (ba mươi bảy triệu, bốn tr m nghìn) đồng.

Do đó, hành vi mà các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Dùng phương tiện nguy hiểm” và “Chiếm đo t tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” được quy định t i điểm d, đ khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); hành vi mà bị cáo Đặng Đ ng K1 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Dùng phương tiện nguy hiểm” được quy định t i điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); hành vi của các bị cáo Ngô V n K2, Nguyễn Hữu B thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”. Các bị cáo đủ n ng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có c n cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ch ng những xâm ph m đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn xâm ph m đến tinh thần, đe dọa đến tính m ng, sức khỏe của người khác; gây mất trật tự, trị an t i địa phương nơi xảy ra v án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật, nhưng vì tham lam, lười lao động l i muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng ph t của pháp luật, thực hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B biết chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh là do các bị cáo Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 ph m tội mà có nhưng vẫn giúp cho Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 liên hệ với người khác để bán chiếc xe này; các bị cáo biết hành vi của mình là vi ph m pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, hành vi của các bị cáo Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B là một trong những nguyên nhân, điều kiện để bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 thêm quyết tâm, ý chí để ph m tội. Do đó, để có tác d ng giáo d c các bị cáo có ý thức tuân theo pháp, cần có mức hình ph t nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà các bị cáo đã thực hiện, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác d ng r n đe, giáo d c các bị cáo tr thành công dân có ích cho xã hội.

Về vai trò của các bị cáo: V án có tính chất đồng ph m giản đơn, giúp sức lẫn nhau thực hiện hành vi ph m tội. Trong đó, bị cáo Nguyễn Đ ng K là người kh i xướng, chỉ điểm và trực tiếp ch Nguyễn Tây H nhiều lần đi tìm các tài sản của người khác để thực hiện hành vi ph m tội, vì vậy mức hình ph t áp d ng khi quyết định hình ph t đối với bị cáo Nguyễn Đ ng K phải cao hơn bị cáo Nguyễn Tây H; bị cáo Đặng Đ ng K1 tham gia cùng với bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H thực hiện một v cướp tài sản nên hình ph t đối với bị cáo Đặng Đ ng K1 thấp hơn bị cáo Nguyễn Tây H. Các bị cáo Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B có nhân thân xấu sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình ph t.

Tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự: Từ ngày 09/02/2023 đến 16/02/2023, các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H đã 04 lần thực hiện hành vi ph m tội và cả 04 lần đều đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản nên các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H thuộc trường hợp “Ph m tội 02 lần tr lên” và đây là tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, n n n hối cải về hành vi ph m tội của mình; tác động gia đình bồi thường, khắc ph c một phần hậu quả nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017). Riêng, đối với bị cáo Nguyễn Đ ng K và bị cáo Nguyễn Tây H được bị h i đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần hình ph t nên các bị cáo Nguyễn Đ ng K và bị cáo Nguyễn Tây H được áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017); bị cáo Ngô V n K2 ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi ph m tội đã đến cơ quan có thẩm quyền để đầu thú nên bị cáo được áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017).

C n cứ nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, vai trò của từng bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét mức hình ph t mà Đ i diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); Điều 589 của Bộ luật Dân sự:

- Quá trình điều tra và t i phiên toà: Chị Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-b c, biển số 84B1-779.30 số tiền là 10.000.000 (mười triệu đồng); anh Nguyễn Dương Minh T4 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H bồi thường số tiền 11.500.000 (mười một triệu, n m tr m nghìn) đồng, đây là số tiền anh T4 đã bỏ ra để mua điện tho i di động hiệu Iphone 11, lo i 64GB, màu trắng; chị Đặng Vĩ N2 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền là 1.000.000 (một triệu) đồng); anh Đào V n T5 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H bồi thường số tiền 3.903.000 (ba triệu, chín tr m lẻ ba nghìn) đồng, đây là số tiền trong ví da của T5 bị chiếm đo t. T i phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H đồng ý bồi thường nên cần ghi nhận.

- Anh Lê Minh D1 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 bồi thường số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng là tiền chiếm đo t điện tho i di động hiệu Iphone XR, màu trắng, lo i 64GB; chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1 bồi thường số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng, bao gồm: Giá trị ví da nữ, màu đen là 1.200.000 (một triệu, hai tr m nghìn) đồng; số tiền trong ví da bị chiếm đo t là 5.000.000 (n m triệu) đồng; số tiền bị rút trong tài khoản của chị N1 là 14.800.000 (mười bốn triệu, tám tr m nghìn) đồng và tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000 (n m triệu) đồng. T i phiên toà, các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 đồng ý bồi thường nên cần ghi nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển số 61K1-111.54 trị giá 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng; các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Nguyễn Đ ng K đã chiếm đo t của anh Lê M nh D, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này do bà Đỗ Thị Kim L (là mẹ ruột của anh Lê M nh D) đứng tên chủ s hữu. Hiện chiếc xe này Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 nhờ Nguyễn Hữu B bán cho người khác không thu hồi được và bà Đỗ Thị Kim L yêu cầu các bị cáo bồi thường cho bà Đỗ Thị Kim L giá trị chiếc xe nên buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B liên đới bồi thường cho bà Đỗ Thị Kim L số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng.

Về biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017):

- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, số khung RLCS5C6K0EY175709, số máy 5C6K-175712 do anh Lê Trọng P1, đ ng ký hộ khẩu thường trú t i thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đứng tên trên Giấy chứng nhận đ ng ký xe. Qua xác minh, t i thôn T, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa không có Lê Trọng P1 sinh sống. Chị Dương Thị Minh H4 là chị dâu của Nguyễn Đ ng K cho biết xe mô tô trên do chị H4 mua l i từ tiệm cầm đồ (không xác định rõ địa chỉ) t i phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương nhưng không làm giấy tờ mua bán. Sau khi mua xe, chị H4 cho Nguyễn Đ ng K mượn để làm phương tiện đi l i. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đ ng B2 để truy tìm chủ s hữu nhưng hiện t i không có ai đến để liên hệ gải quyết. Xét thấy xe mô tô trên là phương tiện do Nguyễn Đ ng K sử d ng để thực hiện hành vi ph m tội Cướp tài sản và t i phiên toà chị H4 không có ý kiến hay yêu cầu gì nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện tho i di động hiệu OPPO A54, màu xanh là điện tho i của Ngô V n K2 dùng để liên hệ với Nguyễn Hữu B nhằm thực hiện hành vi Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 C n cước công dân tên Nguyễn Đ ng K và 01 ví màu đen là tài sản cá nhân của Nguyễn Đ ng K. Đây là tài sản của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi ph m tội nên trả l i cho bị cáo Nguyễn Đ ng K.

- Đối với 01 điện tho i di động hiệu Nokia 1280, màu xanh-đen là tài sản cá nhân của anh Nguyễn Trọng Đ1 nên trả l i cho anh Nguyễn Trọng Đ1.

- Đối với 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen là hung khí Nguyễn Tây H dùng để thực hiện hành vi ph m tội nên tịch thu, tiêu huỷ.

- Trả l i biển số 61K1-111.54 cho bà Đỗ Thị Kim L;

- Trả l i cho anh Đào V n T5 số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng do ông Lê Thế H3 giao nộp;

Tiếp t c t m giữ 01 điện tho i di động hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng và số tiền 3.604.000 (ba triệu, sáu tr m lẻ bốn nghìn) đồng đã thu giữ của Nguyễn Đ ng K; số tiền 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng do ông Ngô V n T2 là cha ruột của Ngô V n K2 giao nộp; số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng do bà Lê Thị T3 là mẹ ruột của Nguyễn Hữu B giao nộp; số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng do bà Nguyễn Thị C là mẹ ruột và anh Nguyễn Trọng Đ1 là anh ruột của Nguyễn Đ ng K giao nộp; số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng do bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột và anh Nguyễn Nhật H5 là anh ruột của Nguyễn Tây H để đảm bảo thi hành án.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- C n cứ vào các Điều 136, 260, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

- C n cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 ph m tội “Cướp tài sản”; tuyên bố các bị cáo Ngô V n K2, Nguyễn Hữu B ph m tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”.

2. Về hình ph t:

2.1. Áp d ng điểm d, đ khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017):

Xử ph t bị cáo Nguyễn Đ ng K 09 (chín) n m 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 16/02/2023.

Xử ph t bị cáo Nguyễn Tây H 09 (chín) n m tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 16/02/2023.

2.2. Áp d ng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017):

Xử ph t bị cáo Đặng Đ ng K1 07 (bảy) n m 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 17/02/2023.

2.3. Áp d ng khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017): Xử ph t bị cáo Ngô V n K2 01 (một) n m tù. Áp d ng Điều 56 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t 04 (bốn) n m tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 70/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung là 05 (n m) n m tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 14/9/2023.

2.4. Áp d ng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017): Xử ph t bị cáo Nguyễn Hữu B 01 (một) n m tù. Áp d ng Điều 56 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017), tổng hợp hình ph t 01 (một) n m 06 (sáu) tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo chấp hành hình ph t chung là 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 11/7/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017); Điều 589 của Bộ luật Dân sự:

3.1. Các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng); bồi thường cho anh Nguyễn Dương Minh T4 số tiền 11.500.000 (mười một triệu, n m tr m nghìn) đồng; bồi thường cho chị Đặng Vĩ N2 số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng và bồi thường cho anh Đào V n T5 số tiền 3.903.000 (ba triệu, chín tr m lẻ ba nghìn) đồng.

3.2. Các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Lê M nh D số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng và bồi thường cho chị Nguyễn Lê Vũ Yến N1 số tiền là số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng.

3.3. Các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B phải liên đới bồi thường cho bà Đỗ Thị Kim L số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng.

4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa v thanh toán số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định t i khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

5. Về biện pháp tư pháp: Áp d ng Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017):

5.1. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô đã qua sử d ng nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, không có bửng, số khung RLCS5C6K0EY175709, số máy 5C6K-175712; 01 (một) điện tho i di động đã qua sử d ng hiệu OPPO A54, màu xanh thu giữ của Ngô V n K2.

5.2. Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) con dao dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen.

5.3. Trả l i cho bị cáo Nguyễn Đ ng K: 01 (một) C n cước công dân tên Nguyễn Đ ng K và 01 (một) ví màu đen (bên trong không có gì).

5.4. Trả cho anh Nguyễn Trọng Đ1 01 (một) điện tho i di động đã qua sử d ng hiệu Nokia 1280, màu xanh-đen.

5.5. Trả l i cho bà Đỗ Thị Kim L 01 (một) biển số 61K1-111.54.

5.6. Trả l i cho anh Đào V n T5 số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng do ông Lê Thế H3 giao nộp.

Tiếp t c t m giữ 01 (một) điện tho i di động đã qua sử d ng hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng-vàng và 3.604.000 (ba triệu, sáu tr m lẻ bốn nghìn) đồng đã thu giữ của Nguyễn Đ ng K; số tiền 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng do ông Ngô V n T2 là cha ruột của Ngô V n K2 giao nộp; số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng do bà Lê Thị T3 là mẹ ruột của Nguyễn Hữu B giao nộp; số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng do bà Nguyễn Thị C là mẹ ruột và anh Nguyễn Trọng Đ1 là anh ruột của Nguyễn Đ ng K giao nộp; số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng do bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột và anh Nguyễn Nhật H5 là anh ruột của Nguyễn Tây H giao nộp để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 113.24 ngày 04 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một; Biên lai thu tiền số 0000514 ngày 12/4/2024 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/4/2024).

6. Về án phí:

6.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai tr m nghìn) đồng.

6.2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K và Nguyễn Tây H phải liên đới nộp số tiền 1.320.150 (một triệu, ba tr m hai mươi nghìn, một tr m n m mươi) đồng.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H và Đặng Đ ng K1 phải liên đới nộp số tiền 1.500.000 (một triệu, n m tr m nghìn) đồng.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Đ ng K, Nguyễn Tây H, Đặng Đ ng K1, Ngô V n K2 và Nguyễn Hữu B phải liên đới nộp số tiền 1.300.000 (một triệu, ba tr m nghìn) đồng.

7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8. Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị h i và những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án được quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Cỡ chữ