vanban.org

Bản án 137/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;

2/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước 19cm x 19cm x 14cm; 01 cục đá có kích thước 24cm x 15cm x 13cm; 01 cục đá có kích thước 26cm x 15cm x 10cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2023 giữa Cơ quan cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÂM NGỌC T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2023/HS-ST
Ngày:
27 -9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Tố Như; ông Nguyễn Tuyệt;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố B (TP. B), tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2023/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Ngọc T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm: 1983; tại: Lâm Đồng; NĐKNKTT và cư trú: Tổ B, Phường C, thành phố B, Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Lâm Ngọc Th và bà: Phan Thị Ng; vợ, con: Chưa có; tiền án: 01: Ngày 20/8/2010 Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 71/2010/HSST, đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 02/3/2009 công an thị xã B (Nay là thành phố B) tỉnh Lâm Đồng khởi tố về Hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đến ngày 11/8/2009 Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định đình chỉ điều tra.

+ Ngày 24/3/2011 Công an thị xã B (Nay là thành phố B) xử phạt hành chính số tiền 750.000đ về Hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm Hành chính số 365, ngày 25/3/2011 chấp hành xong việc nộp phạt.

- Ngày 17/11/2011 Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 111/2011/HSST, đến nay đã được xóa án tích.

Bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Viện pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hòa từ ngày 29/3/2022 đến ngày 05/7/2023; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường 1, thành phố B cho đến nay, có mặt.

Bị hại:

1. Anh Quan Đình D, sinh năm 1987; địa chỉ: Số M đường P, Phường N, TP. B,

tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

2. Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số K đường Ph, Phường N, TP. B, tỉnh Lâm Đồng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Ngọc T là đối tượng đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, là người đã sử dụng ma túy trong thời gian dài nên dẫn đến rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn do sử dụng các chất có thuốc phiện làm cho T mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển Hành vi. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/9/2021 đến ngày 03/10/2021 Lâm Ngọc T đã 02 lần thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 18/9/2021, Lâm Ngọc T đi bộ từ nhà của mình đến trước nhà anh Quan Đình D, tại số M, đường P, Phường N, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, thì thấy 01 (Một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA SELTOS, biển số 49A-359.29, màu trắng đen của anh D đang đỗ trên vỉa hè, không có người trông coi. T nhìn thấy ở gần đó có 02 (hai) cục đá (loại đá chẻ dùng xây móng nhà), có kích thước lần lượt là 24cm x 15cm x 13cm; 19cm x 19cm x 14cm. T dùng 02 (Hai) tay bê cục đá có kích thước 24cm x 15cm x 13cm lên rồi đi đến sát phía trước đầu xe ô tô biển số 49A-359.29 dùng 02 (hai) tay nâng cục đá lên cao, dùng lực ném mạnh 01(một) cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào kính chắn gió phía trước làm cục đá rớt xuống nắp ca pô của xe ô tô biển số 49A-359.29. Sau đó, T tiếp tục đi đến bê cục đá có kích thước là 19cm x 19cm x14cm lên, dùng 02 tay nâng lên cao rồi dùng lực ném mạnh 02 (Hai) cái theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào kính chắn gió phía trước khiến cục đá rớt xuống nắp ca pô làm vỡ kính chắn gió phía trước, móp nắp ca pô và nóc mui xe của xe ô tô biển số 49A-359.29, sau khi làm hư hỏng xe thì T bỏ đi.

*Tại Bản kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS, ngày 27/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Giá trị tài sản bị hư hỏng tại thời điểm ngày 18/9/2021 của 01 (Một) chiếc xe ô tô biển số 49A-359.29, nhãn hiệu KIA SELTOS, số máy: G4LDLD093470, số khung: 51D7LC196946 là: 12.576.912đ (Mười hai triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn chín trăm mười hai đồng).

Lần thứ hai: Vào khoảng hơn 22 giờ ngày 03/10/2021, T đi bộ từ nhà ra hướng giao lộ đường P và đường L, Phường N, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Trên đường đi, T nhìn thấy 01 (Một) cục đá kích thước 26cm x 15cm x 10cm (Loại đã chẻ dùng làm móng nhà) nên đã cầm theo cục đá này. Khi đi đến trước nhà của anh Nguyễn Hồng H, ở địa chỉ: Số K, đường Ph, Tổ M, Phường N, thành phố B. T nhìn thấy 01 (Một) xe ô tô biển số 49A-058.54, nhãn hiệu HUYNDAI màu vàng đồng và 01 (Một) xe ô tô biển số 49A-012.61, nhãn hiệu KIA màu xanh đen của anh H đang đậu tại đây. T quan sát xung quanh không có ai, nên đi đến vị trí của xe ô tô biển số 49A-012.61 rồi dùng cục đá mang theo ném 02 lần trúng kính chắn gió phía trước và nắp ca pô của chiếc xe, làm xe ô tô biển số 49A-012.61 bị bể kính chắn gió phía trước và nắp ca pô bị trầy xước móp méo. Sau đó, T tiếp tục dùng 02 (Hai) tay bê cục đá trên đi đến vị trí của xe ô tô biển số 49A-058.54, nhãn hiệu HUYNDAI màu vàng đồng đang đậu ngay phía sau xe ô tô biển số 49A-012.61 rồi tiếp tục dùng cục đá trên ném 02 lần trúng vào phần kính chắn gió và nắp ca pô, làm xe ô tô biển số 49A-058.54 bị bể kính chắn gió phía trước, nắp ca pô bị trầy xước móp méo rồi bỏ đi.

*Tại bản kết luận định giá tài sản số 158/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

Giá trị tài sản bị hư hỏng tại thời điểm ngày 03/10/2021 của 01 (Một) xe ô tô biển số 49A-058.54, nhãn hiệu HUYNDAI, số máy: G4HGA-700767, số khung: KMHBT51GAAU968371 là: 2.091.000đ (hai triệu không trăm chín mươi mốt ngàn đồng);

Giá trị tài sản bị hư hỏng tại thời điểm ngày 03/10/2021 của 01 (Một) xe ô tô biển số 49A-012.61, nhãn hiệu KIA, số máy: G4FCBW439127, số khung: 41M6BC025766 là: 3.010.000đ (Ba triệu không trăm mười ngàn đồng).

Tổng giá trị thiệt hại là 5.101.000đ (Năm triệu một trăm lẻ một ngàn đồng).

Tại Bản kết luận giám định pháp y T thần số 14/KLGĐ ngày 18/01/2022 của Trung T pháp y T thần khu vực Tây Nguyên kết luận:

+ Trước, trong, sau khi thực hiện Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản và hiện tại (Thời điểm giám định) Lâm Ngọc T bị bệnh: Rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn do sử dụng các chất có thuốc phiện giai đoạn có hoang tưởng, ảo giác chi phối + tăng huyết áp (F11.7+I10)-ICD 10).

+ Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển Hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản ngày 18/9/2021 và hiện tại (Thời điểm giám định) Lâm Ngọc T: Mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển Hành vi.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y T thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 357/KLBB-VPYTW của Viện pháp y T thần Trung ương Biên Hòa ngày 24/5/2023, kết luận:

+ Lâm Ngọc T bị bệnh: Rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn do sử dụng các chất có thuốc phiện giai đoạn có hoang tưởng, ảo giác chi phối;

+ Hiện tại: Lâm Ngọc T đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Bị can có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã tạm giữ và trả lại cho anh Quan Đình D là chủ sở hữu hợp pháp 01 (Một) chiếc xe ô tô biển số 49A-359.29, nhãn hiệu KIA SELTOS, số máy: G4LDLD093470, số khung: 51D7LC196946. Tạm giữ và trả lại cho anh Nguyễn Hồng H là chủ sở hữu hợp pháp: 01 (Một) xe ô tô biển số 49A-058.54, nhãn hiệu HUYNDAI, số máy: G4HGA-700767, số khung: KMHBT51GAAU968371 và 01 (Một) xe ô tô biển số 49A-012.61, nhãn hiệu KIA, số máy: G4FCBW439127, số khung: 41M6BC025766. Hiện đang tạm giữ: 01 (Một) cục đá chẻ kích thước 19cm x 19cm x 14cm, 01 (Một) cục đá chẻ kích thước 24cm x 15cm x 13cm, 01 (Một) viên đá chẻ kích thước 26cm x 15cm x 10cm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Quan Đình D và anh Nguyễn Hồng H không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã nêu, không thắc mắc khiếu nại đối với nội dung Bản Cáo trạng.

Bản Cáo trạng số 151/CT-VKSBL ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân TP. B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Lâm Ngọc T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s, q Khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo T từ 18 đến 24 tháng tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước 19cm x 19cm x 14cm; 01 cục đá có kích thước 24cm x 15cm x 13cm; 01 cục đá có kích thước 26cm x 15cm x 10cm. Buộc bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an TP. B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến Hành tố tụng, Người tiến Hành tố tụng. Do đó, các Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hành tố tụng, Người tiến Hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định tội: Lâm Ngọc T là người bị bệnh rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn do sử dụng các chất có thuốc phiện nên bị mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển Hành vi. Vào ngày 18/9/2021 tại Phường N thành phố B, Lâm Ngọc T đã có Hành vi dùng đá ném làm hư hỏng tài sản là kính chắn gió phía trước và móp nắp ca pô và phần mui phía trước của chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA SELTOS, biển số 49A-359.29, màu trắng đen của anh Quan Đình D gây thiệt hại về tài sản là 12.576.912đ (Mười hai triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn chín trăm mười hai đồng). Ngày 03/10/2021 Lâm Ngọc T lại tiếp tục có hành vi dùng đá ném làm hư hỏng phần kính chắn gió phía trước và làm móp nắp ca pô của chiếc xe ô tô biển số 49A-058.54 nhãn hiệu HUYNDAI và xe ô tô biển số 49A-012.61, nhãn hiệu KIA của anh Nguyễn Hồng H gây tổng thiệt hại về tài sản là 5.101.000đ (năm triệu một trăm lẻ một ngàn đồng). Đối chiếu lời khai của bị cáo, bị hại, kết luận định giá tài sản, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự;

Về tính chất, mức độ, hậu quả hành của vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội khi bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển Hành vi, nên được áp dụng điểm s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích và phạm tội hai lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tái phạm và phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét thấy: Cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cục đá kích thước 19cm x 19cm x 14cm; 01 cục đá có kích thước 24cm x 15cm x 13cm; 01 cục đá có kích thước 26cm x 15cm x 10cm xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s, q khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lâm Ngọc T 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi Hành án, được trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 29/3/2022 đến ngày 05/7/2023.

2/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước 19cm x 19cm x 14cm; 01 cục đá có kích thước 24cm x 15cm x 13cm; 01 cục đá có kích thước 26cm x 15cm x 10cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B với Chi cục thi Hành án dân sự thành phố B).

3/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo, riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ