- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137 /2023/HSST Ngày 15/12/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ , THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Lan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Hoan
2. Ông Nguyễn Đại Huy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì , Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Cấn Thùy Dung - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 132/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Xuân T , sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn TH, xã TH, huyện BV, Tp Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06 /12 ; dân tộc: Kinh; con ông: Đặng Văn T ( đã chết); con bà: Chu Thị H – sinh năm 1956 ; Vợ: Trần Thị Thu H1 – sinh năm 1983; con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018 : Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Lê Văn T1 – sinh năm 1985 ( vắng mặt không lý do)
TT: Thôn TH, xã TH, huyện BV, Tp Hà Nội
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H5 – sinh năm 1963 ( có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H6 – sinh năm 1962 ( có mặt)
Đều trú tại : Thôn VH, xã PV, huyện BV, TP Hà Nội
Néi dung vô ¸n:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội truy tố:
Khoảng 12 giờ 20 ngày 11/7/2023, Đặng Xuân T đi bộ một mình từ quán điện tử ở xóm Phố- thôn Trung Hà- xã Thái Hòa- Ba Vì- Hà Nội để về nhà. Trên đường về, T đi qua nhà anh Lê Văn T1- sinh năm 1985; trú tại: thôn TH, xã TH, huyện BV, Hà Nội thì phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, BKS: 28S7-5540 đang dựng ở sân. T quan sát thấy cổng nhà anh T1 chỉ khép hờ, xung quanh không có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên, bán lấy tiền tiêu xài. T tiến đến chiếc xe máy, thấy xe không khóa cổ, khóa càng, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. T dắt lùi chiếc xe ra ngoài cổng, rồi dắt bộ thêm khoảng 30m thì nổ máy tẩu thoát. Sau đó, T tìm nơi tiêu thụ. T điều khiển xe theo đường bờ sông hướng về xã Phong Vân- Ba Vì tìm cơ sở thu mua sắt vụn để bán chiếc xe vừa trộm cắp được. Khi đi đến ven đường đê thuộc thôn Tân Phong 1- xã Phong Vân- Ba Vì, T đã tháo BKS của chiếc xe và ném vào bụi tre gần đó để tránh bị phát hiện. T thấy bên rệ đường đê có cơ sở thu mua sắt vụn của gia đình ông Nguyễn Văn H5- sinh năm 1963 nên đã vào nhà và gặp bà Nguyễn Thị H6- sinh năm 1962, là vợ ông H5. T đặt vấn đề bán chiếc xe máy trên với giá 700.000 đồng. Bà H6 mặc cả 500.000 đồng nhưng T không đồng ý. Lúc này, ông H5 đi từ trong nhà ra, ông H5 hỏi thông tin về nhân thân của T và nguồn gốc chiếc xe. T nói mình con nhà ông bà “ Tuấn Hằng” ở thôn Trung Hà- xã Thái Hòa- Ba Vì- Hà Nội; chiếc xe máy trên là của T, đã bị mất giấy tờ xe, T muốn bán để mua xe đạp điện đi cho đỡ tốn xăng. Tin tưởng lời T nói, ông H5 đã đồng ý mua xe. Ông H5 trả giá 600.000 đồng thì T đồng ý. Ông H5 đã chụp ảnh chân dung của T để lưu lại hình ảnh người đã bán xe cho mình. Sau khi có được tiền từ việc bán chiếc xe trên, T đã tiêu xài cá nhân hết 210.000 đồng, còn lại 390.000 đồng, T cất trong người.
Về phía anh T1: chiều cùng ngày, anh T1 ngủ dậy và phát hiện chiếc xe máy bị mất nên đã trình báo công an xã Thái Hòa. Cơ quan công an đã rà soát và triệu tập T lên làm việc. T đã thừa nhận hành vi của mình như trên; đồng thời giao nộp cho cơ quan công an số tiền 390.000- là số tiền còn lại sau khi T bán chiếc xe máy trộm cắp của anh T1. Ngoài ra, T còn giao nộp cho cơ quan công an những đồ vật gồm:
- 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, không cổ, kích thước 68 x48 cm, trước ngực áo có sọc kẻ ngang màu xám, ở giữa sọc kẻ có in logo nhãn hiệu Nike, phần cổ áo có in biểu tượng Nike, size L
- 01 chiếc quần đùi chất liệu vải nỉ, phần trên màu đen, phần dưới màu trắng, hai bên đường chỉ quần phía ngoài có in dòng chữ Adidas, quần có chiều dài 50cm, cạp quần rộng 26cm, mỗi bên ống quần rộng 25cm
- 01 đôi dép lê, bằng nhựa màu xanh nước biển, size 43, chiều dài 25,5 cm; mặt lót dép có in chữ Sport, quai dép có gắn logo màu tín, trên logo có chữ Vietsan ( là trang phục T sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 11/7/2023)
Qúa trình xác định hiện trường, cơ quan điều tra đã phát hiện và thu giữ được chiếc BKS 28S7-5540 ở khu vực bụi tre sát bờ đê thuộc thôn Tân Phong 1- xã Phong Vân- Ba Vì- Hà Nội.
Khi làm việc với cơ quan điều tra, ông Nguyễn Văn H5 đã tự nguyện giao nộp những đồ vật, tài sản gồm:
-01 chiếc xe máy, nhãn hiệu Honda wave S, màu đen, không gắn BKS, số khung: RLHJC4310AY005435, số máy: JC43E1207306
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, kiểu dáng Galaxy A03S, màu xanh, trong lắp sim số 0327.288.951 và số 0769.018.930
- 01 đĩa DVD bên trong chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh Đặng Xuân T đến nhà ông H5 và bán chiếc xe máy trên cho vợ chồng ông H5.
Quá trình rà soát camera khu vực xung quanh hiện trường vụ án, cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Đặng Xuân T điều khiển chiếc xe máy của anh Lê Văn T1 tẩu thoát sau khi trộm cắp được ( do anh Nguyễn Hồng Tuyên- sn 1971; trú tại: thôn Trung Hà- xã Thái Hòa- Ba Vì giao nộp).
Ngày 14/7/2023, cơ quan CSĐT- CAH Ba Vì đã có Yêu cầu định giá số 83, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì định giá đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda wave S, màu đen, không gắn BKS, số khung: RLHJC4310AY005435, số máy: JC43E1207306.
Tại Bản kết luận định giá số 80/KL- ĐGTS ngày 19/7/2023, Hội đồng định giá đã kết luận: chiếc xe máy nêu trên trị giá 3.500.000 đồng.
Ngày 10/8/2023, cơ quan CSĐT- CAH Ba Vì đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 366, trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hà Nội giám định đối với 02 đoạn video do ông Nguyễn Văn H5 giao nộp và 01 đoạn video do anh Nguyễn Hồng Tuyên giao nộp. Tại bản Kết luận giám định số 6800/KL- KTHS ngày 13/10/2023, Phòng kỹ thuật hình sự- CATP Hà Nội kế luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh trong các đoạn video gửi giám định.
Về nguồn gốc chiếc xe mô tô Honda wave S, BKS: 28S7-5540 của anh T1: năm 2009, anh T1 mua chiếc xe trên tại cửa hàng Honda Dung Vượng, địa chỉ: số 73 Chùa Thông- Sơn Lộc- Sơn Tây- Hà Nội với giá 14.350.000 đồng. Sau khi mua xe, anh T1 đã đăng ký chủ sở hữu đối với chiếc xe trên.
Ngày 21/8/2023, cơ quan CSĐT- CAH Ba Vì đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 73, trả lại chiếc xe máy và chiếc BKS nêu trên cho anh Lê Văn T1. Sau khi nhận lại tài sản, anh Lê Văn T1 không yêu cầu, đề nghị gì về dân sự, chỉ đề nghị xử lý đối tượng theo quy định pháp luật.
Đối với ông Nguyễn Văn H5 và bà Nguyễn Thị H6- là những người đã trao đổi, mua bán chiếc xe máy của T ngày 11/7/2023 với giá 600.000 đồng. Tuy nhiên, ông H5 và bà H6 không biết chiếc xe trên là do T trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của ông H5, bà H6 không cấu thành tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý mà chỉ nhắc nhở rút kinh nghiệm.
Về dân sự: ông H5, bà H6 yêu cầu T bồi thường cho mình số tiền 600.000 đồng là tiền ông H5, bà H6 đã bỏ ra để mua chiếc xe máy do T trộm cắp mà có. Trong giai đoạn truy tố, Đặng Xuân T đã tự nguyện nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 210.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả.
Về vật chứng của vụ án:
+ 02 đĩa DVD (Trong đó 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video do ông Nguyễn Văn H5 giao nộp; 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video do anh Nguyễn Hồng Tuyên giao nộp), cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án;
+ 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, không cổ, kích thước (68 x 48) cm, trước ngực áo có sọc kẻ ngang màu xám, ở giữa sọc kẻ có in logo nhãn hiệu Nike, phần cổ áo có in biểu tượng Nike, size L; 01 chiếc quần đùi chất liệu vải nỉ, phần trên màu đen, phần dưới màu trắng, hai bên đường chỉ quần phía ngoài có in dòng chữ Adidas, quần có chiều dài 50cm, cạp quần rộng 26cm, mỗi bên ống quần rộng 25cm; 01 đôi dép lê, bằng nhựa màu xanh nước biển, size 43, chiều dài 25,5 cm; mặt lót dép có in chữ Sport, quai dép có gắn logo màu tín, trên logo có chữ Vietsan; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, kiểu dáng Galaxy A03S, màu xanh, trong lắp sim số 0327.288.951 và số 0769.018.930 và số tiền 390.000- tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã có Quyết định chuyển vật chứng sang chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự để bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 131/CT - VKS, ngày 15/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đặng Xuân T về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Tại phiên tòa:
Bị cáo Đặng Xuân T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì , Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Đặng Xuân T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “ Trộm cắp tài sản” .
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về tang vật: - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo phông cộc tay màu đen, không cổ, kích thước ( 68 x 48)cm, trước ngực áo có sọc kẻ ngang màu xám, ở giữa sọc kẻ có in logo nhãn hiệu Nike, phần cổ áo có in biểu tượng Nike, size L, đã cũ rách; 01 chiếc quần đùi chất liệu vải nỉ, phần trên màu đen, phần dưới màu trắng, hai bên đường chỉ quàn phía ngoài có in dòng chữ Adidas, quần có chiều dài 50cm, cạp quần rộng 26cm, mỗi bên ống quần rộng 25cm, đã cũ rách; 01 đôi dép lê, bằng nhựa màu xanh nước biển, size 43, chiều dài 25,5cm, mặt lót dép có in chữ Sport, quai dép có gắn logo màu tím, trên logo có chữ Vietsan, đã cũ rách;Tuyên trả cho ông Nguyễn Văn H5 : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, kiểu dáng Galaxy A03S, màu xanh; Tuyên trả cho ông Nguyễn Văn H5 và bà Nguyễn Thị H6 số tiền: 600.000đ ( sáu trăm nghìn đồng),
[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo T thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng, nên không tranh luận.
[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối hận và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHÂN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an , Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên của huyện Ba Vì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại, tố cáo gì. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi vi phạm của bị cáo bị truy tố: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Đặng Xuân T đúng với các lời khai tại Cơ quan tra điều tra; phù hợp biên bản khám xét, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật CQĐT thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, như vậy HĐXX có đủ cơ sở xác định: Trưa ngày 11/7/2023, Đặng Xuân T lợi dụng sơ hở của anh Lê Văn T1 trong việc trông giữ quản lý tài sản , T đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave S, màu đen, BKS: 28S7- 5540 đang dựng ở trong sân nhà anh T1 ở thôn TH, xã TH, huyện BV, Tp Hà Nội để bán lấy tiền tiêu xài. Tại Kết luận định giá tài sản số 80/KL- ĐGTS ngày 19/7/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự đã kết luận: Chiếc xe máy nêu trên trị giá 3.500.000 đồng. Do vậy HĐXX đã có đầy đủ căn cứ chứng minh hành vi bị cáo Đặng Xuân T thực hiện đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Bị cáo Đặng Xuân T , sinh năm 1988 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được Pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 210.000đ cho ông H5, bà H6. Bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng , nên HĐXX xem xét áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[4] Hình phạt: Qua phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo như trên. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do vậy HĐXX cân nhắc không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 BLHS áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo ấn định một thời gian thử thách để giao bị cáo T về nơi cư trú để giám sát giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng lớn để đảm bảo cho việc thi hành án . Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án:
- Đối với: 01 áo phông cộc tay màu đen, không cổ, kích thước ( 68 x 48)cm, trước ngực áo có sọc kẻ ngang màu xám, ở giữa sọc kẻ có in logo nhãn hiệu Nike, phần cổ áo có in biểu tượng Nike, size L, đã cũ rách; 01 chiếc quần đùi chất liệu vải nỉ, phần trên màu đen, phần dưới màu trắng, hai bên đường chỉ quàn phía ngoài có in dòng chữ Adidas, quần có chiều dài 50cm, cạp quần rộng 26cm, mỗi bên ống quần rộng 25cm, đã cũ rách; 01 đôi dép lê, bằng nhựa màu xanh nước biển, size 43, chiều dài 25,5cm, mặt lót dép có in chữ Sport, quai dép có gắn logo màu tím, trên logo có chữ Vietsan, đã cũ rách, đây là trang phục bị cáo T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, kiểu dáng Galaxy A03S, màu xanh, trong lắp 02 sim đã cũ, điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số Imei, không kiểm tra chất lượng máy, là tài sản của ông Nguyễn Văn H5 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả cho ông H5 là phù hợp.
- Đối với số tiền 600.000đ ( sáu trăm nghìn đồng) hiện đang gửi giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì , ông H5 bà H6 mua chiếc xe từ bị cáo, ông H5 bà H6 đều không biết và bị cáo không nói là tài sản trộm cắp được mà có nên HĐXX xem xét tuyên trả lại số tiền trên cho ông H5 bà H6 là phù hợp.
[6] Vấn đề khác: Đối với ông Nguyễn Văn H5 và bà Nguyễn Thị H6- là những người đã trao đổi, mua bán chiếc xe máy của T ngày 11/7/2023 với giá 600.000 đồng. Tuy nhiên, ông H5 và bà H6 không biết chiếc xe trên là do T trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của ông H5, bà H6 không cấu thành tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý mà chỉ nhắc nhở rút kinh nghiệm là phù hợp
[7] Về dân sự: Bị hại anh T1 đã nhận lại xe máy; anh T1 ,ông H5, bà H6 không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
1.Xử phạt : Bị cáo Đặng Xuân T 09( chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 18 ( mười tám ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã Thái Hòa, huyện Ba Vì, Tp Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý tang vật:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo phông cộc tay màu đen, không cổ, kích thước ( 68 x 48)cm, trước ngực áo có sọc kẻ ngang màu xám, ở giữa sọc kẻ có in logo nhãn hiệu Nike, phần cổ áo có in biểu tượng Nike, size L, đã cũ rách; 01 chiếc quần đùi chất liệu vải nỉ, phần trên màu đen, phần dưới màu trắng, hai bên đường chỉ quàn phía ngoài có in dòng chữ Adidas, quần có chiều dài 50cm, cạp quần rộng 26cm, mỗi bên ống quần rộng 25cm, đã cũ rách; 01 đôi dép lê, bằng nhựa màu xanh nước biển, size 43, chiều dài 25,5cm, mặt lót dép có in chữ Sport, quai dép có gắn logo màu tím, trên logo có chữ Vietsan, đã cũ rách.
- Tuyên trả cho ông Nguyễn Văn H5 : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, kiểu dáng Galaxy A03S, màu xanh, trong lắp 02 sim đã cũ, điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số Imei, không kiểm tra chất lượng máy.
- Tuyên trả cho ông Nguyễn Văn H5 và bà Nguyễn Thị H6 số tiền: 600.000đ ( sáu trăm nghìn đồng), trong đó số tiền 390.000đ ( ba trăm chín mươi nghìn đồng) hiện đang gửi giữ tại Kho Bạc Nhà nước huyện Ba Vì theo số tài khoản 394901052741của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì tại biên lai nộp tiền ngày 28/11/2023 và số tiền 210.000đ ( hai trăm mười nghìn đồng) theo biên lai nộp tiền số 0013777 ngày 15/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì – Tp Hà Nội.
Toàn bộ số vật chứng trên trong Quyết định của bản án này, đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Vì - Thành phố Hà Nội, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/11/2023.
4. Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định Pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án đối với phần liên quan đền quyền nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND H. Ba Vì; - Công an H. Ba Vì; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Ba Vì; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Phương Lan |