- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn K - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Cầm Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2023/HS-ST Ngày: 14-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
2/ Bà Nguyễn Kim Lý;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cầm Văn K, sinh năm 1997, tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã E, huyện R, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Tổ 27, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cầm Hải H, sinh năm 1959 và bà Lang Thị T (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ công an thị xã Bến Cát từ ngày 04/02/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Trương Quốc D, sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp U, xã I, huyện O, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Phan Tuấn C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Cầm Văn K và ông Trương Quốc D đều là nhân viên bảo vệ của Công ty vật liệu xây dựng KT thuộc ấp L, xã X, thị xã C, tỉnh Bình Dương. Tại đây, ông D được công ty giao nhiệm vụ phụ trách tổ bảo vệ. Trong quá trình làm việc, K thường hay ngủ trong giờ làm việc và bị giám đốc công ty KT phản ánh nên ông D nhắc nhở bị cáo K.
Sáng ngày 02/6/2022, ông D nhắc nhở K về việc không chào giám đốc của công ty KT. Ông D nói với K sẽ lập biên bản và gửi về công ty nên K và ông D có xảy ra cự cãi. Đến khoảng 11 giờ 45 cùng ngày, K xin ông D cho về sớm trước 02 tiếng do buồn ngủ, nhưng ông D không đồng ý. Lúc này, K bực tức và đang đứng phía sau lưng của ông D (đang ngồi trong phòng bảo vệ), K dùng tay phải rút 01 con dao bấm dài 21cm mũi nhọn trong túi áo khoác của K đang mặc, mang theo trên người đi từ phía sau tới, đâm liên tiếp 02 nhát vào lưng và hông trái của ông D. Bị đâm nên ông D đứng dậy, dùng tay đẩy K ra thì bị K dùng tay trái đấm 01 cái vào mặt ông D nhưng ông D né được, rồi K và ông D có cự cải qua lại. Sau đó K đi ra trước cửa của phòng bảo vệ ngồi một lúc rồi bỏ đi về. Sau khi bị K dùng dao đâm, ông D được nhân viên của Công ty KT đưa đến Bệnh viện đa khoa MP cấp cứu. Đến ngày 11/6/2022, ông D xuất viện.
Ngày 05/12/2022, ông Trương Quốc D đến Công an xã X thị xã C tố giác hành vi cố ý gây thương tích của Cầm Văn K.
* Vật chứng thu giữ: 01 con dao bấm bằng kim loại, màu đen đã gỉ sét, dài khoảng 21cm do Cầm Văn K giao nộp.
Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 858/2022/GĐPY ngày 20/12/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dương, kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương ở mạn sườn trái 1,6 x 0,4cm thấu bụng, thủng dạ dày 01 lỗ, thủng đại tràng ngang 01 lỗ, thủng đại tràng sigma 02 lỗ, đã phẫu thuật khâu lổ thủng dạ dày và đại tràng, làm hậu môn tạm, vết mổ đường giữa bụng trên dưới rốn 11 x 1cm, vết mổ dẫn lưu hố chậu trái 1 x 0,7cm, vết mổ làm hậu môn nhân tạo vùng bụng phải 3,4 x 0,9cm. Hiện tại đã đóng hậu môn, sẹo lành.
- Vết thương vùng lưng trái 1,5 x 0,5cm, sẹo lành.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 60% (Sáu mươi phần trăm), căn cứ theo bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể kèm theo Thông tư số: 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019 do Bộ Y Tế ban hành về “Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần”.
* Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết thương ở mạn sườn trái: Chiều dọc, hướng từ trái sang phải, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc nhọn gây ra.
- Vết thương vùng lưng trái: Chiều dọc, hướng từ sau ra trước, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
Tại Cơ quan điều tra, Cầm Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của K phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trương Quốc D yêu cầu Cầm Văn K bồi thường số tiền 200.000.000 đồng, K đồng ý bồi thường nhưng hiện chưa có tiền.
Tại Cáo trạng số 127/CT- VKSBC ngày 02 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Cầm Văn K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Cầm Văn K mức án từ 07 - 08 năm tù.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm bằng kim loại, màu đen đã gỉ sét, dài khoảng 21cm bị cáo sử dụng gây thương tích cho bị hại.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Trương Quốc D số tiền 200.000.000 đồng.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 200.000.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi bị cáo đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xử mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 200.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Cầm Văn K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ ngày 02/6/2022, tại phòng bảo vệ của Công ty Vật liệu xây dựng KT thuộc ấp L, xã X, thị xã C, tỉnh Bình Dương, do có mâu thuẫn với ông Trương Quốc D là bảo vệ làm chung với bị cáo, bị cáo Cầm Văn K đã có hành vi cố ý dùng dao bằng kim loại đâm 02 nhát vào vùng lưng và mạn sườn của ông Trương Quốc D, hậu quả gây thương tích cho ông D với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60%. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 127/CT-VKSBC ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo K thực hiện là rất nghiêm trọng do có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 10 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha bị cáo là thương binh. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong công việc với bị hại và coi thường sức khỏe của người khác mà đã sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đâm 02 nhát vào vùng lưng và mạn sườn, gây thương tích cho bị hại. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất côn đồ theo điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về biện pháp tư pháp: 01 con dao bấm bằng kim loại, màu đen đã gỉ sét, dài khoảng 21cm cần tịch thu tiêu hủy
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 200.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 47; Điều 48; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Cầm Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Cầm Văn K 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Cầm Văn K bồi thường cho bị hại Trương Quốc D số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm bằng kim loại, màu đen đã gỉ sét, dài khoảng 21cm
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C, tỉnh Bình Dương).
4. Án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Cầm Văn K phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Cầm Văn K phải chịu 10.000.000 (mười triệu) đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày14/7/2023).
- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Công an Tx. Bến Cát; - CCTHA Tx. Bến Cát; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA V Văn Quang Bảo |