- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H- Cao Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Cao Văn Tr.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 137/2023/HNGĐ-ST Ngày 30-5-2023 V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa chị H và anh Tr”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn Chi Nam, xã L, huyện G, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Cao Văn Tr, sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm Trần Hòa, xã H, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Chị H vắng mặt có lý do; anh Tr vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 02-3-2023, bản tự khai ngày 09-3-2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị Nguyễn Thị H và anh Cao Văn Tr đăng ký kết hôn ngày 20-12-2006 tại Uỷ ban nhân dân xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Quá trình chung sống, mặc dù đã có con chung nhưng vợ chồng tH xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau; anh Tr không quan tâm, chia sẻ, gánh vác trách nhiệm cùng chị H trong việc chăm lo gia đình, phát triển kinh tế. Sau thời gian dài mâu thuẫn, chị H và anh Tr đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Tr không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tr.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Cao Xuân Đình, sinh ngày 20-4-2007 và cháu Cao Minh Trí, sinh ngày 31-7-2012, hiện đang do chị H nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi cả hai con, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 71/TB-TLVA ngày 09-3-2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hợp lệ cho anh Cao Văn Tr nhưng anh Tr không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Tr nhưng đến nay anh Tr vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Cao Văn Tr đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh Tr là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Cao Văn Tr là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đăng ký kết hôn ngày 20-12-2006.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh Tr thì thấy: Trong suốt quá trình chung sống, mặc dù đã có con chung nhưng vợ chồng tính tình không hợp, anh Tr không quan tâm, chia sẻ cuộc sống với chị H nên vợ chồng tH xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị H, anh Tr đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Trong suốt thời gian ly thân, chị H, anh Tr cũng không có biện pháp để hòa giải, đoàn tụ gia đình. Mặt khác, anh Tr đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, anh Tr đã biết được việc chị H làm đơn xin ly hôn nhưng không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án, không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng tỏ anh Tr không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Trên cơ sở đơn đề nghị có xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Tr; căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Tr đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh Tr là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Cao Văn Tr có hai con chung là Cao Xuân Đình, sinh ngày 20-4-2007 và cháu Cao Minh Trí, sinh ngày 31-7-2012. Hiện các con chung đang ở với chị H. Khi ly hôn, chị H nhận nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau ly hôn của chị H thì thấy: Chị H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay; cháu Đình, cháu Trí đều trên bảy tuổi có nguyện vọng xin được ở với chị H. Quá trình giải quyết vụ án, anh Tr không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của H: Giao hai con chung là cháu Cao Xuân Đình và cháu Cao Minh Trí cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh Tr không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị H là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu; anh Tr không có ý kiến về tài sản nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Cao Văn Tr.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Cao Xuân Đình, sinh ngày 20-4-2007 và cháu Cao Minh Trí, sinh ngày 31-7-2012 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Tr không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Hai bên có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Hiện cháu Đình, cháu Trí đang do chị H nuôi dưỡng nên anh Tr không phải bàn giao con cho chị H nuôi dưỡng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0006593 ngày 09-3-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định: 1 bản; - VKSND tỉnh+huyện: 2 bản; - Chi cục THADS huyện: 1 bản; - UBND xã Lệ Chi: 1 bản; - Các đương sự: 2 bản; - Lưu hồ sơ + VP: 3 bản. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |