- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh T ly hôn Nguyễn Ngọc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 137/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-02-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH PH HỒ CH MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan
Các Hội thẩm nhân dân: 1- Bà Phạm Thị Ngọc
2- Bà Nguyễn Phước Trinh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1602/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc: “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 718/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số 11, quốc lộ 22, khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số 02, đường L, tổ 01, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn nội dung xin ly hôn ngày 18/10/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T trình bày: Bà với ông Nguyễn Ngọc L tìm hiểu quen nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã được Ủy ban nhân dân xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển 01/2007, ngày 10/01/2007. Sau kết hôn, cả hai về nhà vợ sinh sống. Tuy nhiên, cuộc sống cả 02 không hạnh phúc và phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông L thường xuyên đi xa nhà, không quan tâm đến vợ con và không có trách nhiệm chăm lo gia đình, nên vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, cải vã nhau. Bà và ông L đã ly thân hơn 01 năm nay, không còn quan hệ vợ chồng, mỗi người đã có cuộc sống riêng.
Hiện vợ chồng bà không còn tình cảm yêu thương, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 23/7/2007 và Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 27/12/2012. Bà đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Khi toà giải quyết ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác định không có tài sản chung.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; 02 Bản sao khai sinh con chung; Chứng minh nhân dân + sổ hộ khẩu (sao y) của nguyên đơn; Đơn xác nhận thông tin về cư trú của bị đơn.
Ông Nguyễn Ngọc L đã được Tòa án tống đạt: Thông báo thụ lý; Thông báo mở phiên họp về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đến tham dự phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà ông L vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Ông Nguyễn Ngọc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh T với ông Nguyễn Ngọc L tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01/2007, ngày 10/10/2007 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông L là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà T thì mâu thuẩn giữa bà với ông L là trầm trọng và không thể hàn gắn. Nguyên nhân là do ông L thường xuyên đi xa nhà, không quan tâm đến vợ con và không có trách nhiệm chăm lo gia đình, nên vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, cải vã nhau. Bà và ông L đã ly thân trong thời gian dài, không còn quan hệ vợ chồng, mỗi người đã có cuộc sống riêng.
Ông L đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L là có căn cứ theo các tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp và chứng cứ mà Tòa thu thập được theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.
Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà T với ông L không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 23/7/2007 và Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 27/12/2012. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của 02 trẻ, xét thấy cần giao 02 trẻ cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp; ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có nên Toà án không xem xét.
Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có nên Tòa không xem xét.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc L. Giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01/2007, ngày 10/01/2007 của Ủy ban nhân dân xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi cấp cho bà T, ông L không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 23/7/2007 và Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 27/12/2012. Bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi, do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết b ng vụ án khác.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, m hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, Toà án không xem xét.
4. Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn xác định không có, Tòa án không xem xét.
5. n phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Thanh T phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0020181 ngày 11/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phồ Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí phí dân sự dân sự sơ thẩm.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nh n:
| - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND H. Củ Chi; - Chi cục THADS H. Củ Chi; - UBND xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ (12b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Xuân Lan |