vanban.org

Bản án 137/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim Ng về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Kim Ng và anh Đoàn Đại Đ. Về con chung: giao cháu Đoàn Lê Thiên K, sinh ngày 26/3/2022 cho chị Lê Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Ng không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ngân ly hôn anh Đô"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim Ng về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-7-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hồng Quang Minh;

2. Bà: Nguyễn Thị Thuỳ Linh.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Liêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Hồ Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia và đình thụ lý số: 63/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Kim Ng, sinh năm 2002; địa chỉ: thôn Cổ Thành, xã T Th, huyện H H, tỉnh Q T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: anh Đoàn Đại Đ, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn Ph D (thôn 3), xã Q Th, huyện Q S, tỉnh Q N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/02/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn - chị Ng trình bày:

Chị và anh Đoàn Đại Đ đăng ký kết hôn tại UBND xã T Th, huyện H H, tỉnh Q T vào ngày 21/3/2022, hôn nhân giữa anh chị hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc, chị Ng và anh Đ đã có con chung Đoàn Lê Thiên K, sinh ngày 26/3/2022. Một thời gian sau thì anh Đ nghiện ngập và thường xuyên đánh đập chị Ng, chị Ng đã nhẫn nhịn khuyên ngăn nhưng anh Đ không thay đổi, chị Ng đã bồng con về sống tại quê ngoại tại xã T Th, huyện H H, tỉnh Q T từ đầu năm 2023 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng chị và anh Đoàn Đại Đ đã chấm dứt. Nay, chị Ng làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết để chị và anh Đoàn Đại Đ được ly hôn.

Về con chung: Khi ly hôn chị Lê Kim Ng xin được nhận nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đoàn Lê Thiên K, sinh ngày 26/3/2022 đến tuổi thành niên, không yêu cầu anh Đoàn Đại Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn anh Đoàn Đại Đ trình bày:

Về điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn, con chung của chúng tôi, chị Lê Kim Ng đã trình bày đầy đủ trong đơn tôi không trình bày gì thêm. Nay chị Ng xin ly hôn với tôi, tôi đồng ý, vì vợ chồng tôi cũng còn tình cảm có thể đoàn tụ để nuôi con.

Về con chung: cháu Đoàn Lê Thiên K, sinh ngày 26/3/2022. Khi ly hôn tôi đồng ý giao cháu K cho chị Lê Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn , bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Đ có nơi cư trú tại thôn Ph D (thôn 3), xã Q Th, huyện Q S, tỉnh Q N. Chị Ng khởi kiện xin ly hôn với anh Đ và yêu cầu được trực tiếp nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Ng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: chị Ng và anh Đ tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T Th, huyện H H, tỉnh Q T cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/3/2022 nên hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử nắng mặt, chị Ng vẫn cương quyết xin ly hôn. Tại phiên toà, anh Đ đồng ý ly hôn. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Ng, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ng là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Khi ly hôn chị Lê Kim Ng xin được nhận nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đoàn Lê Thiên K, sinh ngày 26/3/2022 đến tuổi thành niên, anh Đoàn Đại Đ đồng ý, hiện nay cháu K đang ở với chị Ng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét giao cháu K cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Ng không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở phù hợp với quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: chị Ng phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Kim Ng về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Kim Ng và anh Đoàn Đại Đ.

2. Về con chung: giao cháu Đoàn Lê Thiên K, sinh ngày 26/3/2022 cho chị Lê Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Ng không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Lê Kim Ng phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị Ng đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004989 ngày 11/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ