vanban.org

Bản án 137/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 31/03/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất, HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 203 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2023/DS-PT
Ngày 31-3-2023
“V/v tranh chấp về hợp
đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tặng

Các Thẩm phán:

Ông Đinh Chí Tâm

Ông Nguyễn Chí Dững

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Bạch Nga - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24/02/2023, ngày 09/3/2023, ngày 24/3/2023 và ngày

31/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2022/TLPT-DS ngày 09 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2022

của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 58./2023/QĐ-PT

ngày 02 tháng 02 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn:

1.1 Ông Lê Văn K, sinh năm 1961.

1.2 Bà Nguyễn Thị Kh, sinh năm 1962.

Cùng địa chỉ: Tổ, ấp Tịnh H, xã Tịnh Th, thành phố Cao L, tỉnh Đồng

Tháp.

2. Bị đơn:

2.1 Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Số, Tổ , ấp Tịnh H, xã Tịnh Th, thành phố Cao L, tỉnh Đồng

Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông B: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh

năm 1979. Địa chỉ: Tổ , ấp Tịnh H, xã Tịnh Th, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

2.2 Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Tổ , ấp Tịnh H, xã Tịnh Th, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B và anh T: Luật sư Võ

Phát T-Văn Phòng Luật sư Đức T- thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Bà Lê Thị M, sinh năm 1955.

3.2 Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1985.

3.3 Chị Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1988.

3.4 Chị Nguyễn Hoàng Thanh Tr, sinh năm 1994.

3.5. Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1987.

Cùng địa chỉ: Số, Tổ, ấp Tịnh H, xã Tịnh Th, thành phố Cao L, tỉnh

Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà M, anh T, chị L, chị TR, chị Th:

Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ , ấp Tịnh H, xã Tịnh Th, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

* Người kháng cáo: Ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Kh là nguyên đơn.

Ông K, bà Kh, anh T và Luật sư có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Kh trình bày:

Ngày 24/11/2003 ông B có chuyển nhượng cho ông K và bà Kh diện

tích 856m2 đất lúa, giá chuyển nhượng là 7.500.000 đồng.

Đến năm 2012 ông B vay tiền của ông K và bà Kh 03 chỉ vàng 24K do

không có tiền trả nên ông B chuyển nhượng thêm cho ông K và bà Kh diện tích 144m2 đất lúa, tổng cộng 1.000m2, đất tại ấp Tịnh Hưng, xã Tịnh Thới thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp. Việc chuyển nhượng đất, trả tiền, hai bên có làm giấy tay có ông Lê Thành Phương, ông Nguyễn Hoàng Hữu Nghĩa và ông Trần Minh Điền chứng kiến.

Nay ông K và bà Kh yêu cầu hộ ông Nguyễn Văn B (hộ ông B gồm Lê

Thị Mai, Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Thị Thúy Lê, Nguyễn Hoàng Thanh Trúc, Phạm Thị Thanh) và ông Nguyễn Hoàng T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.000m2, thửa 1721, Nay ông K và bà Kh yêu cầu hộ ông Nguyễn Văn B và những người trong hộ ông B tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.000m2, thửa 1721, tờ bản đồ số 4 và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Hoàng T đối với thửa 1721.

Ông K, bà Kh thống nhất diện tích đất được thể hiện qua biên bản xem

xét thẩm định tại chỗ ngày 19/5/2021, ngày 22/12/2021 và ngày 19/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Theo ông Nguyễn Văn B có người đại diện ông Nguyễn Hoàng T trình

bày:

Năm 2003 ông Nguyễn Văn B có mượn của ông Lê Văn K và bà Nguyễn

Thị Kh số tiền 7.500.000 đồng, do không có tiền trả nên ông B có cố đất cho ông K và bà Kh nửa công đất lúa khi nào có tiền trả lại, ông B không có chuyển nhượng diện tích 856m2 đất lúa cho ông K và bà Kh.

Ông B không có vay 03 chỉ vàng 24K của ông K và bà Kh. Ông B cũng

không có chuyển nhượng thêm diện tích đất diện tích 144m2 đất lúa cho ông K và bà Kh.

Hiện tại trên phần diện tích đất tranh chấp trên có khoản 06 ngôi mộ của

ông bà trong dòng họ của ông B có từ rất lâu.

Ông B thừa nhận có ký tờ sang nhượng đất ngày 24/11/2003 và ký tên

vào tờ lời cam kết không ghi ngày tháng do ông K và bà Kh cung cấp.

Nay ông B đồng ý trả lại số tiền 7.500.000 đồng cho ông K và bà Kh,

việc ông K và bà Kh yêu cầu ông B thực hiện tiếp hợp đồng thì ông B không đồng ý.

Anh Nguyễn Hoàng T trình bày:

Ông B có có vay số tiền 7.500.000 đồng của ông K và bà Kh, sau đó ông

B có cố cho ông K và bà Kh nữa công đất lúa. Ông B không có chuyển nhượng diện tích 856m2 đất lúa cho ông K và bà Kh.

Ông B không có vay 03 chỉ vàng 24K của ông K và bà Kh, ũng không có

chuyển nhượng thêm 144m2 đất lúa cho ông K, bà Kh.

Phần đất tranh chấp, năm 2017 ông B và gia đình tặng cho anh T. Ngày

01/02/2018, ông T được Sở tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 970,5m2 đất lúa, thửa đất số 1721, tờ bản đồ số 04, đất tại xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Nay ông T không đồng ý theo yêu cầu ông K và bà Kh, ông T đồng ý trả

lại giá trị 23 cây xoài cho ông K và bà Kh theo giá hội đồng đã định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà M, anh T1, chị L, chị Tr và

chị Th là ông Nguyễn Hoàng T trình bày:

Năm 2003 ông B chuyển nhượng đất cho ông K và bà Kh, thời điểm trên

các thành viên trong hộ không biết và không có ký tên vào tờ sang nhượng đất, phần diện tích đất tranh chấp trên hiện nay ông T là người đứng tên quyền sử dụng đất, nên không đồng ý theo yêu cầu ông K và bà Kh.

Ông K và bà Kh yêu cầu thực hiện tiếp hợp đồng: Bà Mai, anh Toàn, chị

Lê, chị Trc và chị Th không đồng ý vì bà M, anh T1, chị L, chị Tr và chị Th không có ký giấy tờ mua bán với ông K và bà Kh và không biết ông B có chuyển nhượng đất cho ông K và bà Kh.

Tại quyết định Bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2022/DS-ST ngày 06 tháng

9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, đã tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh yêu

cầu hộ ông Nguyễn Văn B (hộ ông B gồm Lê Thị Mai, Nguyễn Hoàng Toàn, Nguyễn Thị Thúy Lê, Nguyễn Hoàng Thanh Trúc, Phạm Thị Thanh) và ông Nguyễn Hoàng T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.000m2, thửa 1721, tờ bản đồ số 4 đất tọa lạc tại ấp Tịnh Hưng, xã Tịnh Thới thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Hoàng T đối với thửa 1721, tờ bản đồ số 4 đất tọa lạc tại ấp Tịnh Hưng, xã Tịnh Thới thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

2. Hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Văn Bé, ông Lê Văn

K và bà Nguyễn Thị Kh. Tuyên bố tờ sang nhượng đất ngày 24/11/2003 giữa ông Nguyễn Văn Bé, ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh vô hiệu.

3. Buộc ông Nguyễn Văn B trả cho ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh

7.500.000 đồng.

4. Buộc ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh giao lại cho ông Nguyễn

Hoàng T diện tích đất và 23 cây xoài trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, C, D, 4, 5, 6 về mốc 1 loại đất lúa, thửa đất số 1721, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

5. Buộc ông Nguyễn Hoàng T trả giá trị 23 cây xoài cho ông Lê Văn K

và bà Nguyễn Thị Kh số tiền là 41.400.000 đồng.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh chịu nhưng do ông Lê Văn K và bà

Nguyễn Thị Kh là người cao tuổi nên được miễn theo quy định pháp luật.

Trả cho ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh số tiền tạm ứng án phí là

600.000 đông theo biên lai thu số 0007937 ngày 06/4/2021 và biên lai thu số 0017399 ngày 24/9/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

7. Chi phí xem xét thẩm định ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh phải

chịu là 5.994.000 đồng, ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh đã tạm ứng và đã chi xong.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về thời hạn, quyền kháng cáo và

quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13 tháng 9 năm 2022, ông Lê Văn K và bà

Nguyễn Thị Kh là nguyên đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số: 66/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh. Ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Kh yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông bà, không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau

về việc giải quyết vụ án.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, anh T trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là ông, bà để lại cho hộ ông B, trên phần đất tranh chấp có 06 ngôi mộ của dòng họ, ông B chuyển nhượng đất vợ và các con của ông B không có ký tên. Vào thời điểm năm 2003, việc chuyển nhượng không đúng qui định của pháp luật, không tuân thủ về mặc hình thức, không thể hiện diện tích, số thửa đất, tờ bản đồ. Phần đất tranh chấp ông B và gia đình đã tặng cho anh T và anh T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông K, bà Kh, giữa nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh, phát biểu

việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành tốt quy định của pháp luật và đề xuất hướng giải quyết là chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về phía ông B thừa nhận có ký tên vào Tờ sang nhượng đất ngày

24/11/2003, Giấy cam kết có xác nhận của ông Nghĩa ngày 01/3/2011 và Tờ cam kết không ngày tháng, nhưng ông B cho rằng không có chuyển nhượng đất cho ông K và bà Kh. Tuy nhiên, theo lời khai của các nhân chứng ông Lê Thành Ph, ông Trần Minh H đều xác định là có chứng kiến việc ông B thỏa thuận chuyển nhượng đất cho ông K và bà Kh. Điều đó đủ cơ sở xác định ông B thỏa thuận chuyển nhượng cho ông K và bà Kh 1.000m2 đất.

[2] Theo ông K và bà Kh, khi chuyển nhượng đất ông B nói giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp Ngân hàng, khi trả nợ Ngân hàng xong sẽ làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông K, nhưng ông B không thực hiện, (theo hồ sơ thể hiện năm 2006 ông B thế chấp vay tiền Ngân hàng NNPTNT- Chi nhánh Đồng Tháp, năm 2007 thế chấp cho Ngân hàng Phương Nam). Năm 2017, sau khi trả nợ cho Ngân hàng xong hộ ông B đã tiến hành thủ tục tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 1721 cho anh T, ngày 01/02/2018 anh T được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy CNQSD đất mà không chuyển nhượng đất cho ông K và bà Kh.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T thừa nhận ông B đã giao đất cho ông

K và bà Kh quản lý, sử dụng đất từ năm 2003 (trên đất có 06 ngôi mộ), gia đình vợ con của ông B đều biết, nhưng không có ý kiến gì. Đến năm 2006 ông B xin chuộc lại đất nhưng ông K và bà Kh không đồng ý, đồng thời ông K và bà Kh đã đấp mô trồng xoài và sử dụng đất cho đến nay. Anh T thừa nhận số tiền 7.500.000 đồng ông B nhận dùng vào việc mua bán gỗ tạo thu nhập cho gia đình.

[4] Mặc dù, việc chuyển nhượng đất các bên làm giấy tay, nhưng bên

nhận chuyển nhượng trả tiền xong, bên chuyển nhượng đất đã giao đất cho bên nhận chuyển nhượng, các thành viên trong hộ đều biết nhưng không có kiến ý phản đối gì. Điều đó, chứng tỏ gia đình ông B (gồm bà Lê Thị M, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thị Thúy L, Nguyễn Hoàng Thanh Tr, Phạm Thị Th và ông Nguyễn Hoàng T) mặc nhiên thừa nhận việc ông B chuyển nhượng đất cho ông K, bà Kh, nên việc ông K, bà Kh yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K, bà Kh với ông B là có cơ sở phù hợp Án lệ số 04/2016, ngày 06/4/2016 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K, bà Kh với hộ ông B.

[5] Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông K, bà Kh

được công nhận, nên việc ông K, bà Kh yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/12/2017 giữa anh Nguyễn Hoàng T với hộ của ông B là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K, bà Kh thống nhất giữ nguyên các

ngôi mộ không có yêu cầu di dời, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Xét, đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B,

anh T, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông K, bà Kh, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét thấy, cũng như phần nhận định trên đề nghị của Luật sư là chưa phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là

có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông

Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh, sửa bản án sơ thẩm.

[10] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.

[11] Do kháng cáo của ông K, bà Kh được chấp nhận, nên ông K, bà Kh

không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ; Điều 203 Luật Đất đai; Điều 129, Điều 500 Bộ Luật dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh.

- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm

2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh.

2. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Tờ sang

nhượng đất ngày 24/11/2003, tờ cam kết có xác nhận của ông Nghĩa ngày 01/3/2011 và tờ cam kết không ngày tháng) giữa ông ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh với Nguyễn Văn B.

3. Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/12/2017 giữa ông

Nguyễn Văn B, bà Lê Thị M, anh Nguyễn Hoàng T, chị Nguyễn Thị Thúy L, chị Nguyễn Hoàng Thanh Trúc, chị Nguyễn Thị Thanh với anh Nguyễn Hoàng T, đối với Diện tích 970,5m2, thửa 1721, tờ bản đồ số 4, loại đất lúa.

4. Ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị Kh được quyền sử dụng diện tích

1.000,5m2, thửa đất số 1721, tờ bản đồ số 04, loại đất lúa phạm vi các mốc 1, 2, 3, C, D, 4, 5, 6,7 về mốc 1, đất tại xã Tịnh Thới, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, đất hiện ông K và bà Kh đang quản lý, sử dụng.

5. Đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp thu hồi Giấy

chứng nhận QSDĐ số bìa CM 658410, số vào sổ CS01399, đối với thửa đất số 1721, diện tích 970,5m2, tờ bản đồ số 4, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước do anh Nguyễn Hoàng T đứng tên QSDĐ, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 01/02/2018, để cấp lại cho ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh.

(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/5/2021, ngày

19/8/2022 và Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày19/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).

6. Về án phí :

6.1 Ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh không phải chịu tiền án phí dân

sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Hoàn trả cho ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh số tiền tạm ứng án phí

là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0007937 ngày 06/4/2021 và biên lai thu số 0017399 ngày 24/9/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

6.2 Ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị M, anh Nguyễn Hoàng T, chị Nguyễn Thị

Thúy L, chị Nguyễn Hoàng Thanh Tr, chị Phạm Thị Th và anh Nguyễn Hoàng T liên đới phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6.3 Anh Nguyễn Hoàng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

7. Chi phí tố tụng:

Tổng cộng là 5.994.000 đồng.

7.1 Ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh không phải chịu tiền chi phí tố

tụng.

7.2 Ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị M, anh Nguyễn Hoàng T, anh Nguyễn

Hoàng T, chị Nguyễn Thị Thúy L, chị Nguyễn Hoàng Thanh Tr, chị Phạm Thị Th liên đới phải chịu 5.994.000 đồng chi phí tố tụng. Do ông K, bà Kh đã nộp tạm 5.994.000 đồng và đã chi xong, nên ông B, bà M, anh T, anh T, chị Lê, chị Tr, chị Thanh nộp 5.994.000 đồng, hoàn trả cho ông Lê Văn K và bà Nguyễn Thị Kh.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại

Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ