- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Trộm cắp tài sản”; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2022/HS-ST Ngày: 20 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Châu Thị Lệ
Bà Trương Thị Hồng Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:174/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
- Tô Thanh P, sinh năm 1992, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: số C phường An Phú Đ, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô An K (chết) và bà Cao Thị Kim T, sinh năm 1968; Có vợ Dương Thị Thu T1, sinh năm 1991 và có 02 con chung lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: không; Tiền sự: Tòa án nhân dân Quận 12 ban hành Quyết định số 421/QĐ-TA ngày 24/5/2019 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng; Nhân thân: - Năm 2009, Ủy ban nhân dân Quận 12 ban hành Quyết định số 1369/QĐ-UBND ngày 27/8/2009 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng; - Ngày 16/01/2013 Tòa án quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 3 năm 6 tháng về tội “cướp giật tài sản” (bản án số 15/HSST/ 2013); tạm giam ngày: 18/3/2022; (Có mặt).
- Bị hại: 1/- Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: thị trấn Plei Cần, tỉnh KomTum; Chỗ ở: số X đường số Y, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt); 2/- Chị Nguyễn Minh T2, sinh năm 2001; Hộ khẩu thường trú: số B Máy N, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: số X đường số Y, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tô Thanh P quen biết với Phan Thanh H khi cai nghiện chung vào năm 2019. Vào khoảng cuối tháng 10 năm 2021, P qua nhà trọ H chơi tại địa chỉ số A đường D, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. H nhờ P phụ chuyển đồ sang phòng trọ khác và đưa chìa khóa cổng nhà trọ cho P giữ. Sau đó P thấy tại khu nhà trọ có dựng nhiều xe máy không người quản lý. nên nảy sinh ý định lấy trộm xe máy ở đây. P rủ H trộm cắp tài sản nhưng H không đồng ý tham gia. Sau đó, P gọi rủ Phan Ngọc T3 là bạn quen khi đi cai nghiện cùng đi trộm cắp tài sản thì T3 đồng ý. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 06/12/2021, P đón xe ôm ra chân cầu vượt Quang Trung gặp T3 và hai thanh niên khác (P biết một người tên H1, không rõ lai lịch). Sau đó, T3 sử dụng xe máy hiệu Honda Wave màu vàng biển số 59U1-168.96 chở P, H1 sử dụng xe máy hiệu Blade màu đen (không nhớ rõ biển số) chở người thanh niên còn lại đến nhà trọ địa chỉ số A đường số D, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi P, H1 xuống xe, P sử dụng chìa khóa đã mang theo sẵn mở khóa cửa cổng phụ bên phải rồi cùng H1 đi vào trong để lại ổ khóa trên cửa, T3 cùng người đàn ông còn lại đứng ngoài cảnh giới. Sau đó P dắt bộ một xe máy hiệu Honda AirBlade màu đen biển số 82E1-199.72 của anh Trần Ngọc L, H1 dắt bộ một xe máy hiệu Honda Vision biển số 79N2-753.96 của chị Nguyễn Minh T2 ra ngoài. Do xe máy hiệu Honda Vision có chìa khóa nên H1 nổ máy chạy còn xe máy hiệu Honda AirBlade không nổ máy được nên P cầm lái để Trung điều khiển xe máy hiệu Honda Wave đẩy phía sau. Cả nhóm về trước địa chỉ số G đường F, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông (do người đi chung với H1 liên hệ). Người này xem xe và đồng ý mua hai xe với giá 16.000.000 đồng, cả nhóm chia đều mỗi người 4.000.000 đồng rồi cùng nhau ra về.
Sau khi phát hiện sự việc mất trộm tài sản, chị Nguyễn Minh T2 và anh Trần Ngọc L báo cho quản lý nhà trọ là anh Đỗ Trí Đ trích xuất hình ảnh camera tại khu trọ, đến trình báo sự việc tại Công an phường 8, quận Gò Vấp.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã triệu tập Tô Thanh P đến làm việc, qua đấu tranh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với Phan Ngọc T3, qua xác minh hiện không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được với đối tượng, qua rà soát camera ghi nhận có một đối tượng mặc áo khoác của hãng xe công nghệ Gojek ngồi trên xe Honda Wave màu vàng biển số 59U1-168.96 đứng ngoài cổng nhà trọ địa chỉ số 61/39 đường số 19, phường 8, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh canh chừng cho các đối tượng vào trộm cắp tài sản; xác minh biển số xe Honda Wave màu vàng biển số 59U1-168.96 do chị Trần Thị Kim L đứng tên chủ sở hữu, sau đó đã bán lại cho em gái là Trần Thị Kim C, tháng 10 năm 2021 chị C giao xe gắn máy trên cho con trai là Phan Ngọc T3 sử dụng làm phương tiện đi lại, T3 không ở cùng gia đình, hiện nay đi đâu làm gì gia đình không rõ. Ngoài lời khai của Tô Thanh P không có căn cứ xác định, người ngồi trên xe Honda Wave màu vàng biển số 59U1-168.96 là Phan Ngọc T3. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm Phan Ngọc T3 để tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
Đối với Phan Thanh H, được Tô Thanh P rủ đi trộm cắp tài sản nhưng từ chối không tham gia, lời khai của H phù hợp với lời khai của P do đó không có cơ sở xử lý Phan Thanh H đồng phạm với P về tội trộm cắp tài sản.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 79N2-753.96, số máy: JF86E2166048, số khung: RLHJF5830KY101817 do chị Nguyễn Minh T2 đứng tên chủ sở hữu.
- 01 (một) chiếc xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 82E1-199.72, số máy: JF63E2664273, số khung: RLHJF6329KZ218505 do anh Trần Ngọc L đứng tên chủ sở hữu.
Kết luận định giá tài sản số 262/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS cấp quận – UBND quận Gò Vấp kết luận: xe gắn máy biển số 79N2-753.96, số máy: JF86E2166048, số khung: RLHJF5830KY101817 có giá trị là 24.333.333 đồng; xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 82E1-199.72, số máy: JF63E2664273, số khung: RLHJF6329KZ218505 có giá trị 33.433.333 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 57.766.666 đồng.
- 01 (một) ổ khóa màu vàng có chữ SOLEX, 01 (một) chìa khóa màu bạc có chữ SOLEX. Đây là ổ khóa của phòng trọ, sau khi mở để đột nhập Tô Thanh P treo để lại trên cửa cổng, anh Đỗ Trí Đ là quản lý phòng trọ có đơn xin nhận lại tài sản trên để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý trao trả tài sản cho anh Đỗ Trí Đ.
- 01 (một) USB trích hình ảnh từ camera (kèm theo hồ sơ vụ án).
- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh đen, 01 (một) quần kaki màu đen, 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen tạm giữ của Tô Thanh P, là trang phục P sử dụng khi gây án.
Về bồi thường dân sự: Bị hại Nguyễn Minh T2 yêu cầu bồi thường 24.000.000 đồng. Bị hại Trần Ngọc L yêu cầu bồi thường số tiền 33.400.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 135/CTr-VKS, ngày 04/7/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Tô Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Đề nghị xử phạt bị cáo Tô Thanh P từ 03 năm đến 03 năm 6 tháng tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp .
- Buộc bị cáo bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh đen, 01 (một) quần kaki màu đen, 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen.
Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về hòa nhập cùng cộng đồng xã hội để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Tô Thanh P đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Tô Thanh P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Lợi dụng sự mất cảnh giác của các bị hại bị cáo cùng đồng bọn đã lén lút đột nhập lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngườikhác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác. Xét nhân thân bị cáo xấu đã nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và từng bị xử lý mức án 03 năm 6 tháng tù về tội cướp giật tài sản, tuy đã được xóa án nhưng bị cáo không làm lại cuộc đời mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do bị cáo chiếm đoạt tài sản với giá trị trên 50.000.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò vấp truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có cơ sở.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bản thân và gia đình của bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay những bị hại vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện anh Trần Ngọc L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 33.400.000 đồng trị giá chiếc xe bị chiếm đoạt. Chị Nguyễn Minh T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 24.000.000 đồng trị giá chiếc xe bị chiếm đoạt.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại Hội đồng xét xử xét thấy đây là yêu cầu và là sự thỏa thuận tự nguyện không trái pháp luật nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh đen, 01 (một) quần kaki
màu đen, 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen là tư vật của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp của Tô Thanh P, xét thấy đây là chứng cứ vụ án Hội đồng xét xử quyết định tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ theo hồ sơ vụ án (đã bổ sung).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Tô Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;
Xử phạt bị cáo Tô Thanh P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/3/2022.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB ghi nhận hình ảnh vụ trộm cắp (đã bổ sung hồ sơ).
Trả lại cho bị cáo 01 (một) áo sơ mi dài tay màu xanh đen, 01 (một) quần kaki màu đen, 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 67/PNK ngày 06/6/2022 của Công an quận Gò Vấp).
Buộc bị cáo bồi thường cho anh Trần Ngọc L số tiền 33.400.000 (Ba
mươi ba triệu bốn trăm ngàn) đồng và chị Nguyễn Minh T2 số tiền 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo Tô Thanh P không bồi thường số tiền nêu trên cho bị hại thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Việc thi hành án được thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 2.870.000 (Hai triệu tám trăm bảy mươi ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Thi hành án Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Bị cáo; - Bị hại. - Lưu: HS, VP. PAGE PAGE PAGE 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoàng Ngọc Hải |