- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Lê Thị H khởi kiện chị Lê Thị Kim A về tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với chị Lê Thị Kim A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 471 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2022/DS-ST Ngày: 11/11/2022 Về việc“TrA chấp hợp đồng góp hụi”. |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà HUỲNH THỊ THA PHƯƠNG.
2. Ông TRẦN VĂN THẠCH.
- Thư ký phiên tòa: Bà ĐINH THỊ HIÊN – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Bà NGUYỄN LÂM THUÝ VI - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2022/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2022/QĐXXST- DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1955 (có đơn đề nghị giải quyết mặt).
Địa chỉ: ấp CB, xã CG, huyện GD, tỉnh Tây Ninh
- Bị đơn: Chị Lê Thị Kim A, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp TrĐ, xã TrĐ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 04 năm 2022, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Bà Lê Thị H và chị Lê Thị Kim A không có quan hệ họ hàng, bà H có nghề làm chủ thảo hụi, chị Kim A là hụi viên. Chị Kim A bắt đầu chơi hụi do bà H làm chủ thảo từ khoảng năm 2017, các dây hụi khác đã mãn và đóng hụi đầy đủ, còn 04 phần hụi của 02 dây hụi, chị Kim A đã hốt hụi, hụi đã mãn nhưng chưa đóng hết hụi chết cho bà H, cụ thể như sau:
1. Dây hụi thứ nhất: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, gồm 23 phần, hụi khui ngày 30/11/2019 âm lịch, mãn ngày 30/10/2021 âm lịch, chị Kim A tham gia 02 phần. Chị Kim A hốt phần đầu ngày mùng 05/5/2020, kêu 900.000 đồng, hốt được 28.600.000 đồng (đã trừ tiền cò 1.000.000 đồng), đã giao đủ tiền cho chị Kim A, việc giao tiền có làm giấy cam kết ngày 05/5/2020 âm lịch. Phần thứ hai hốt ngày mùng 05/10/2020, kêu 750.000 đồng, hốt được 34.750.000 đồng (đã trừ tiền cò 1.000.000 đồng), đã giao đủ tiền cho chị Kim A, việc giao tiền có làm giấy cam kết ngày 05/10/2020 âm lịch. Sau khi hốt hụi, chị Kim A đóng hụi chết đến ngày mùng 07/5/2021 thì không đóng nữa, còn nợ lại 05 kỳ hụi chết x 4.000.000 đồng = 20.000.000 đồng.
2. Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000 đồng/tháng, gồm 17 phần, hụi khui ngày 30/07/2020 âm lịch, mãn ngày 30/12/2021 âm lịch, chị Kim A tham gia 02 phần. Chị Kim A hốt phần đầu ngày mùng 07/11/2020, kêu 1.650.000 đồng, hốt được 56.050.000 đồng (đã trừ tiền cò 2.500.000 đồng), đã giao đủ tiền cho chị Kim A, việc giao tiền có làm giấy cam kết ngày 07/11/2020 âm lịch. Chị Kim A hốt phần thứ hai hốt vào ngày mùng 07/5/2021, kêu 1.750.000 đồng, hốt được 65.250.000 đồng (đã trừ tiền cò 2.500.000 đồng), đã giao đủ tiền cho chị Kim A, việc giao tiền có làm giấy cam kết ngày 07/5/2021 âm lịch. Sau khi hốt hụi xong thì chị Kim A không đóng hụi chết lại lần nào, còn nợ lại 07 kỳ hụi chết x 10.000.000 đồng = 70.000.000 đồng.
Tổng cộng, chị Kim A còn nợ bà H số tiền là 90.000.000 đồng.
Sau khi hốt hụi xong chị Kim A thay đổi chỗ ở, bà H có tình cờ gặp chị H được 02 lần, bà H đòi nợ nhưng chị Kim A hứa trả nhưng không trả.
Nay bà H khởi kiện chị Kim A yêu cầu chị Kim A có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền nợ hụi còn thiếu là 90.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi và không còn yêu cầu nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị Kim A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa án để làm việc, hòa giải, dự phiên họp và tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành trình bày:
Về thủ tục tố tụng:
Hội đồng xét xử và các bên đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn bà Lê Thị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Lê Thị Kim A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H, chị Kim A là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với chị Lê Thị Kim A, buộc chị Kim A có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 90.000.000 đồng, ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi của số tiền trên. Chị Kim A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Lê Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn chị Lê Thị Kim A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H, chị Kim A là phù hợp quy định tại Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ tranh chấp: Bà H là chủ hụi, chị Kim A có tham gia hụi do bà H làm chủ thảo, đã hốt hụi và đóng hụi chết đến ngày 07/5/2021 âm lịch thì không tiếp tục đóng nữa nên hai bên phát sinh tranh chấp, đây là tranh chấp hợp đồng góp hụi được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của bà H yêu cầu chị Kim A có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 90.000.000 đồng, thấy rằng: Trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn xuất trình chứng cứ là 02 danh sách hụi viên và 04 giấy cam kết gồm: Giấy cam kết ngày 05/10/2020 âm lịch, 05/05/2020 âm lịch, 07/11/2020 âm lịch và giấy cam kết cuối cùng là ngày 07/5/2021 (âm lịch), tương tứng với 04 phần hụi mà chị Kim A tham gia. Các giấy cam kết có nội dung là chị Kim A nhận tiền hốt hụi từ bà H, cam đoan đóng hụi lại cho bà H và đều có chữ ký của chị Lê Thị Kim A. Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị Kim A không đến Tòa án để làm việc, dự phiên họp, phiên hòa giải, xét xử mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Có căn cứ xác định việc tham gia chơi hụi giữa chị Kim A và bà H là có thật, chị Kim A có tham gia 04 phần hụi của 02 dây hụi do bà H làm chủ thảo, đã hốt hụi và nhận tiền hụi từ bà H đầy đủ, từ ngày 07/5/2021 âm lịch thì vi phạm nghĩa vụ đóng hụi. Đến khi các dây hụi đã mãn, chị Kim A còn nợ lại bà H 05 kỳ hụi chết của 02 dây hụi 2.000.000 đồng/tháng với số tiền là 20.000.000 đồng và 07 kỳ hụi chết của 02 dây hụi 5.000.000 đồng/tháng là 70.000.000 đồng, tổng cộng là 90.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H đối với chị Kim A. Buộc chị Kim A có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 90.000.000 đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Chị Kim A phải chịu 90.000.000 x 5% = 4.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với chị Lê Thị Kim A.
Buộc chị Lê Thị Kim A có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).
Ghi nhận bà H không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra xử lý.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Kim A phải chịu 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị H là người cao tuổi, được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không đặt ra xử lý.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà Lê Thị H và chị Lê Thị Kim A vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Hòa Thành; - Chi cục THA DS thị xã Hòa Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Kim Phụng |