- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố các bị cáo Võ Trọng Q, Phạm Minh C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒC MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 137/2021/HS-ST Ngày : 30/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒC MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Khắc Di
2/ Ông Vũ Trung Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. HồC Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. HồC Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố HồC Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 131/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1/ Võ Trọng Q; sinh năm: 1985; tại TP. HồC Minh; nơi đăng ký thường trú: 254/33/154 Đường Đ, Phường N, Quận T; Thành phố H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn H, sinh năm 1958 và bà: Võ Thị H1, sinh năm 1961; Hoàn cảnh gia đình: có vợ (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2015); Tiền án: không; Tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 03/11/2004 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố HồC Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 20/9/2016 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố HồC Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt giữ ngày: 04/12/2020. (Có mặt).
2/ Phạm Minh C; sinh năm: 1986; tại TP. HồC Minh; nơi đăng ký thường trú: 79G Đường T2, Phường S, Quận T; Thành phố H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn N1, sinh năm 1958 và bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956; Hoàn cảnh gia đình: có vợ (đã ly hôn) và 03 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2015); Tiền án: Ngày 28/7/2017 bị Tòa án nhân dân Thành phố HồC Minh xử phạt 04 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt giữ ngày: 04/12/2020. (Có mặt).
- Bị hại: ông Đỗ Duy L, sinh năm: 1977, địa chỉ: 32/188 Đường T3, phường K, quận X, TP. N2. (có đơn xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Dương Văn H, sinh năm: 1959, địa chỉ: 1648 Đường P, Thị trấn B, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 30/11/2020, Lê Anh Tú (thường gọi là “Tú nhóc”) điện thoại rủ Phạm Minh C và Võ Trọng Q đi cướp giật tài sản, cả hai đồng ý. Khi Phạm Minh C điều khiển xe máy hiệu Sirius màu xám đến 126 Nguyễn Văn Cừ, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1 thì nhìn thấy nhóm của Tú bao gồm Võ Trọng Q, Việt (không rõ L lịch) chở Tú bằng xe máy Sirius đỏ đen (không rõ biển số), Mập (không rõ L lịch) điều khiển xe máy Attila màu đen (không rõ biển số). Cả nhóm bàn bạc và phân công vai trò như sau: trên đường đi nếu ai phát hiện người sở hữu tài sản thì báo lại cho Q và Tú để Tú trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản. CònC, Mập có nhiệm vụ cản trở người truy đuổi, việc chia tài sản sau khi cướp giật do Tú là người trực tiếp chia cho mỗi người.
Sau khi bàn bạc xong cả nhóm chạy xe qua nhiều tuyến đường và đến đài phun nước khu vực Công viên Hoàng Văn Thụ trên đường Trường Sơn thì Tú phát hiện ông Đỗ Duy L kẹp chiếc bóp màu đen ở dưới cánh tay phải đang bước lên taxi tại trước số 2 Trường Sơn, Phường 2, quận Tân Bình (hướng xe đi về sân bay) nên đã thông báo cho cả nhóm biết. Lúc này, Tú xuống xe do Việt đang chở để lên xe do Q điều khiển để chuẩn bị cướp giật chiếc bóp của ông L. Sau đó cả nhóm chạy xe máy theo phía sau xe taxi chờ cơ hội thực hiện.
Khi xe taxi rẽ vào cổng Tổng công ty Hàng không Việt Nam (số 58 Trường Sơn, Phường 2, quận Tân Bình) thì Q cũng rẽ theo. Lúc này ông Đỗ Duy L đi cùng đồng nghiệp là Đặng Minh Vũ và Nguyễn Văn Hà đang được nhân viên bảo vệ đo thân nhiệt tại cửa cổng. Q cho xe chạy áp sát phía bên phải của ông Đỗ Duy L, Tú ngồi sau dùng tay phải giật được chiếc bóp màu đen của ông L rồi cả hai tăng ga tẩu thoát.
Lúc này Phạm Minh C điều khiển xe gần đến cổng Tổng công ty Hàng không Việt Nam thấy Q chở Tú chạy ra đường Trường Sơn, đồng thời có người đàn ông vừa chạy bộ theo vừa tri hô. Lúc này Phạm Minh C biết rằng Tú và Q vừa cướp giật tài sản nên nhanh chóng tăng ga chạy theo Q và Tú. Cả nhómC, Tú, Q chạy xe ra đường Phạm Văn Đồng thì dừng xe lại (lúc này không biết Mập, Việt ở đâu). Để tránh bị phát hiện, Tú qua xe doC chở, còn Q đi một mình. Khi đến trước số 370 Trường Sa, Phường 2, quận Phú Nhuận, Tú mở bóp ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có 2.000USD, một sấp tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng (không rõ bao nhiêu tiền) và có vài thẻ (không biết thẻ gì). Tú vứt cái bóp xuống kênh Nhiêu Lộc. Khi đến cầu Thị Nghè (quận Bình Thạnh), Tú gọi điện thoại cho Việt, Mập và hẹn gặp nhau tại đây. Sau khi Mập và Việt đến, Tú qua xe do Việt điều khiển, Tú chia tiền cho Mập để Mập về trước (không rõ số tiền). Sau đó cả nhóm điều khiển xe về khu vực đường Lê Văn Lương, Quận 7. Tại đây, Tú chia cho Phạm Minh C số tiền 200 USD và 1.500.000 đồng; chia cho Võ Trọng Q 800 USD và 2.000.000 đồng, còn lại Tú chia Việt bao nhiêu thì không rõ.
Qua truy xét, ngày 04/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã mời làm việc Võ Trọng Q và Phạm Minh C đều khai nhận hành vi tham gia cướp giật tài sản như trên.
Võ Trọng Q khai nhận sau khi được chia tiền Q đi một mình đến Khu dân cư Trung Sơn (huyện Bình Chánh) thuê phòng nghỉ. Do sợ bị phát hiện nên Q đến tiệm sửa xe số 551/30E/21 Phạm VănC, Phường 7, Quận 6 thay dàn áo xe Wave (dàn áo xe cũ Q bỏ lại tiệm sửa xe). Đến chiều ngày 01/12/2020, Q đến cửa hàng vàng tại số 87 đường số 15, phường Tân Kiểng, Quận 7 mang theo 800 USD đổi tiền Việt Nam được hơn 18.000.000 đồng rồi về nhà thuê của cha ruột là ông Võ Văn Hoàn tại nhà không số, tổ 1, khu phố 6, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi đưa ông Hoàn số tiền 1.500.000 đồng để đóng tiền nhà, số tiền còn lại Q đã trả nợ và tiêu xài cá nhân. Từ khi thực hiện việc cướp giật thì Q không gặp lại Tú,C, Việt, Mập.
Phạm Minh C khai nhận sau khi được chia tiền,C mang 200 USD đến tiệm vàng số 1648 Huỳnh Tấn Phát, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè để đổi thành tiền Việt Nam được 4.600.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết. Từ ngày 30/11/2020, sau khi thực hiện hành vi cướp giật,C không còn liên lạc với Tú, Q, Việt, Mập.
Qua làm việc, người bị hại ông Đỗ Duy L trình bày tài sản bị cướp giật là ví cầm tay màu đen hiệu Leonardo bên trong có 2.000 USD, tiền Việt Nam 15.000.000 đồng, thẻ tín dụng và thẻ ATM mang tên Đỗ Duy L. Trong quá trình điều tra ông L đã nhận lại một phần tài sản là 200USD (do ông Dương Văn Hai giao nộp lại) và 1.500.000 đồng (do người nhà của bị cáo Q nộp lại)
Đối với ông Võ Văn Hoàn (cha ruột của Võ Trọng Q) trình bày: Vào tối ngày 30/11/2020, Q có đưa cho ông Hoàn 1.500.000 đồng để đóng tiền thuê nhà tại ấp 3, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi. Ông Hoàn đã đóng tiền nhà 1.200.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết 300.000 đồng. Ông Hoàn hoàn toàn không biết nguồn gốc số tiền 1.500.000 đồng do Võ Trọng Q cướp giật mà có.
Đối với ông Dương Văn Hai là chủ cửa hàng vàng tại số 1648 Huỳnh Tấn Phát, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè trình bày: Vào khoảng 16 giờ ngày 30/11/2020, có hai người nam thanh niên (không rõ L lịch) cầm 200 USD đổi tiền Việt Nam tương đương là 4.610.000 đồng. Do số lượng người giao dịch đến cửa hàng nhiều nên ông không nhớ đặc điểm nhận dạng của người thanh niên này. Ông Hai tự nguyện giao nộp 200 USD, ông Hai không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền trên.
Đối với ông Nguyễn Phan Nhật là chủ cửa hàng vàng tại số 87 đường số 15, phường Tân Quy, Quận 7 trình bày: Vào ngày 01/12/2020 có rất nhiều khách hàng vào đổi tiền và mua vàng nên không nhớ rõ đặc điểm nhận dạng của từng người. Tại cửa hàng có gắn camera an ninh nhưng không còn dữ liệu ngày 01/12/2020.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 136/HĐĐGTS-TTHS ngày 11/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 2.000 USD x 23.230 đồng tương đương số tiền 46.460.000 đồng. Đối với một túi xách (ví) cầm tay hiệu Leonardo không có mẫu, hình ảnh, chứng từ hóa đơn và các thông tin liên quan cần thiết nên không có cơ sở cho việc định giá.
Vật chứng vụ án:
- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh vụ cướp giật tài sản của ông Đỗ Duy L ngày 30/11/2020 (lưu cùng hồ sơ vụ án).
- 01 xe máy hiệu Honda Wave biển số 52U6–765.
- 01 dàn áo xe Wave màu xanh gồm: một mặt nạ, một đầu đèn trước, một dè trước, hai cánh bửng, hai ốp sườn; do anh Nguyễn Hòa Hiệp là chủ tiệm sửa xe tại số 551/30E/21 Phạm VănC, Phường 7, Quận 6 giao nộp.
- 01 áo sơ mi màu trắng xanh, 01 quần màu xanh thu giữ của Phạm Minh C.
- 01 áo sơ mi sọc caro, 01 quần jean màu xanh, 01 áo khoác dài tay màu xám đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh thu giữ của Võ Trọng Q.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu đen số IMEI: 357931/09/078631/5 – 357932/09/078631/3 (kèm sim có thuê bao là xxxxxxxxxx) thu giữ của Phạm Minh C.
Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKS-TB ngày 12 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Võ Trọng Q và Phạm Minh C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 171của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt hai bị cáo Võ Trọng Q và Phạm Minh C từ 04 đến 05 năm tù.
Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Võ Trọng Q và Phạm Minh C, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
2 Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người tham gia tố tụng cùng các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Võ Trọng Q và Phạm Minh C đã có hành vi dùng xe máy áp sát và chiếm đoạt tài sản của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt trong vụ án là 61.460.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Việc các bị cáo sử dụng xe gắn máy là phương tiện nguy hiểm thực hiện hành vi cướp giật tài sản rồi tăng ga tẩu thoát không những gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt của bị hại là 61.460.000 đồng. Do đó cần áp dụng điểm c, d Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tù thật nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
3 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Minh C có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng đó đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4 Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5 Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đỗ Duy L yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt là 61.460.000 đồng. Trong quá trình điều tra ông L đã được nhận lại số tiền 200USD và 1.500.000 đồng. Do đó ông yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 1.800 USD (quy đổi tiền thành đồng Việt Nam là 41.814.000 đồng) và số tiền 13.500.000 đồng, tổng cộng là 55.314.000 đồng. Ông L không yêu cầu bồi thường chiếc ví cầm tay. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ đo đó cần buộc hai bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 55.314.000 đồng cho bị hại.
[6 Về tang vật của vụ án:
- Đối với 01 USB chứa dữ liệu ghi nhận hình ảnh vụ cướp giật tài sản, xét đây là tài liệu chứng cứ về hành vi phạm tội của các bị cáo cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Đối với xe máy hiệu Honda Wave biển số 52U6–7657, số khung: Y532059, số máy: HC09E–6532212 thu giữ của Võ Trọng Q. Bị cáo Q khai xe do bị cáo mua của một thanh niên không rõ L lịch và không lập hợp đồng mua bán. Qua xác minh, xe do anh Nguyễn Văn Thành đăng ký sở hữu. Vào ngày 30/9/2013, anh Nguyễn Văn Thành bán xe trên cho anh Phan Thanh Tâm và có làm hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng Công chứng. Anh Tâm khai sau khi mua xe anh đã bán cho một thanh niên (chưa rõ nhân thân L lịch) cũng không lập hợp đồng mua bán. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu, đến nay chưa có kết quả. Do đó Hội đồng xét xử giao cho Cơ quan Thi hành án quận Tân Bình thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian 01 năm nếu không làm việc được với chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu thì giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu đen số IMEI: 357931/09/078631/5 – 357932/09/078631/3 (kèm sim có thuê bao là xxxxxxxxxx) thu giữ của Phạm Minh C. Xét đây phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 dàn áo xe Wave màu xanh gồm: một mặt nạ, một đầu đèn trước, một dè trước, hai cánh bửng, hai ốp sườn do anh Nguyễn Hòa Hiệp là chủ tiệm sửa xe tại Quận 6 giao nộp. Xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 áo sơ mi màu trắng xanh, 01 quần màu xanh thu giữ của Phạm Minh C và 01 áo sơ mi sọc caro, 01 quần jean màu xanh, 01 áo khoác dài tay màu xám đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh thu giữ của Võ Trọng Q. Xét các vật chứng này không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm hai bị cáo phải nộp 2.765.700 đồng, mỗi bị cáo phải nộp là 1.382.850 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Trọng Q;
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Minh C;
Căn cứ Điều 589 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1 Tuyên bố các bị cáo Võ Trọng Q, Phạm Minh C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo: Võ Trọng Q 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2020.
Xử phạt bị cáo: Phạm Minh C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2020.
2 Về trách nhiệm dân sự: Buộc hai bị cáo Võ Trọng Q, Phạm Minh C có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Đỗ Duy L số tiền 55.314.000 (Năm mươi lăm triệu ba trăm mười bốn ngàn) đồng.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu ghi nhận hình ảnh vụ cướp giật tài sản.
- Đối với xe máy hiệu Honda Wave màu tím đen biển số 52U6–7657, số khung: Y532059, số máy: HC09E–6532212 giao cho Cơ quan Thi hành án quận Tân Bình thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian 01 năm nếu không làm việc được với chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu thì giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 màu đen số IMEI: 357931/09/078631/5 – 357932/09/078631/3 (kèm simcard và pin).
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 dàn áo xe Wave màu xanh gồm: 01 mặt nạ, 01 đầu đèn trước, 01 dè trước, 02 cánh bửng, hai ốp sườn; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng xanh; 01 quần dài Jeans màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro; 01 quần jean màu xanh, 01 áo khoác dài tay màu xám đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 145/PNK ngày 14/10/2021 của Đội CSTHAHS và HTTP Công an quận Tân Bình).
[4] Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: mỗi bị cáo phải nộp 1.382.850 (Một triệu ba trăm tám mươi hai ngàn tám trăm năm mươi) đồng.
[5 Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. HồC Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND TP. HồC Minh; - Phòng HSNVCS CA TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HồC Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Trần Ái Vy Tô Trần Ái Vy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Trần Ái Vy |