vanban.org

Bản án 137/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 27/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Trường D - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137 /2021/HS-ST
Ngày 27 tháng 12 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH – TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông La Văn Viên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoa và Ông Hoàng Văn Dự;

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TK, tỉnh CB

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 137/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:142 /2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Lý Trường D; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 14/7/1995 tại huyện TK, tỉnh CB

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm T, xã Ng, huyện TK, tỉnh CB; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Lý Văn T và bà Lý Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Có 01 tiền án ngày 29/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 06/8/2020 chấp hành xong. Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/10/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

- Ngƣời bị hại:

1, Hoàng Văn Ng, sinh năm 1979 Trú tại: BM, KT, TK, CB (Vắng mặt) có đơn xin xét xử vắng mặt.

2, Nông Thế Tr, sinh năm 1991 Trú tại: PH, KT, TK, CB (Có mặt).

- Ngƣời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nông Tiến C, sinh năm 1960; trú tại: PT – PPh –ĐD, Ng, TK, CB (Vắng mặt).

Lý Văn T, sinh năm 1967; trú tại: T, Ng, TK, CB (Vắng mặt).

- Ngƣời làm chứng:

Mông Văn S, sinh năm 1997; trú tại: SK, ĐH, TK, CB (Vắng mặt).

Nông Văn Tr1, sinh năm 1994; trú tại: PT – PPh –ĐD, Ng, TK, CB (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý Trường D, sinh năm 1995, trú tại xóm T, xã Ng, huyện TK, tỉnh CB Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2021, Lý Trường D đã thực hiện 02 (hai) vụ trộm cắp tài sản tại khu vực xã KT, huyện TK. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 28/6/2021, Lý Trường D gặp Mông Văn S sinh năm 1997, trú tại xóm SK, xã ĐH, huyện TK tại đầu chợ Trùng Khánh, S rủ D đi bốc hàng ở khu vực mốc biên giới. D đồng ý và điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 11F9-XXXX chở S đi từ thị trấn TK đến khu vực xóm LC, xã KT, huyện TK nhưng đến nơi thì không có hàng để bốc. Đến khoảng 21 giờ D và S quay về, khi đến địa phận xóm PC, xã KT, huyện TK thì cả hai thấy cột sắt cầu gôn bằng kim loại tại đó, quan sát không thấy người xung quanh, D và S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D và S khiêng 01 (một) cột gôn bị hỏng mất đi một thanh sắt vào gốc đồi thông rồi bẻ thanh ngang cột gôn thành 02 (hai) khúc, cùng với 02 (hai) trụ gôn tất cả là 04 (bốn) đoạn sắt để mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân và mua ma túy sử dụng. Khi D và S đang buộc các cột sắt và khiêng ra chỗ để xe máy thì bị Công an xã Khâm Thành, huyện Trùng Khánh phát hiện đưa về trụ sở làm việc.

Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/8/2021, D đi bộ từ nhà ra đầu làng xóm T, xã Ng, huyện TK để đi nhờ xe ra thị trấn TK mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 30 D gặp Nông Văn Tr1, sinh năm 1994, trú tại xóm PT- PPh- Đ - NK- TK ở thị trấn TK và xin Tr1 cho đi nhờ xe về. Tr1 đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11K1- 091.XX chở D theo sau. Khi đến khu vực xóm BM, xã KT, huyện TK, xe bị chết máy, Tr1 xuống sửa xe. D đi vệ sinh gần nhà anh Hoàng Văn Ng, sinh năm 1979. Quan sát thấy không có ai ở nhà, D lấy trộm 01 (một) quạt điện, 02 (hai) con dao quắm, 02 (hai) lưỡi cuốc và 01 (một) cưa sắt cầm tay, tất cả đã bị rỉ sét. Sau đó, Tráng và D chở số sắt trên mang đi bán thì bị người dân phát hiện giữ lại và giao cho Công an xã Khâm Thành.

Ngày 01/9/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh ra văn bản yêu cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ ĐGTS ngày 13/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Trùng Khánh kết luận: Giá trị tại thời điểm trộm cắp của 04 thanh kim loại hình trụ tròn rỗng khối lượng 37 kg là 222.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Tại kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Trùng Khánh kết luận: Giá trị tại thời điểm trộm cắp của 01 (một) quạt điện, 01 (một) cưa sắt cầm tay, 02 (hai) dao quắm, 02 (hai) lưỡi cuốc, tổng 5kg kim loại là 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng).

Qua điều tra xác minh làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát 11K1-091.XX cho ông Nông Tiến C; trả lại 04 thanh kim loại hình trụ tròn rỗng, có khối lượng 37kg cho anh Nông Thế Tr; trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ xám đen, biển kiểm soát 11F9-XXXX cho ông Lý Văn T; trả lại 01 (một) quạt điện, 02 (hai) dao quắm, 01 (một) lưỡi cưa sắt cầm tay, 01 (hai) lưỡi cuốc cho ông Hoàng Văn Ng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan Điều tra người bị hại Hoàng Văn Ng trình bày: Khoảng 17 giờ ngày 16/8/2021, tôi (Nghị) đi làm thì có anh em bảo có 02 đối tượng vào trộm một số đồ vật gia đình tôi gồm 01 quạt điện, 01 cưa sắt cầm tay, 02 con dao quắm, 02 lưỡi cuốc tất cả các đồ vật trên đều đã bị hỏng, han gỉ. Tôi không yêu cầu gì đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật

Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa người bị hại Nông Thế Tr trình bày: Sáng ngày 29/6/2021, tôi (Tràng) đi làm được Đoàn thanh niên xóm Pác Chang báo lại cho tôi bộ gôn sân bóng đá của xã đã bị mất trộm. Bộ gôn được Ủy ban nhân dân xã Khâm Thành giao cho Đoàn thanh niên xã quản lý và bảo quản, việc mất đi bộ gôn ảnh hưởng đến phong trào thể thao của Đoàn xã. Nay đã nhận được lại bộ gôn và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

B¶n c¸o tr¹ng sè 140/CT -VKSTK ngµy 24 th¸ng 11 n¨m 2021 ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Trïng Kh¸nh truy tè bÞ c¸o Lý Trường D vÒ téi “Trém c¾p tµi s¶n” theo quy định tại điểm b kho¶n 1 §iÒu 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Trường D Phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lý Trường D với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không đề nghị.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận tại Cơ quan Điều tra bị hại Hoàng Văn Ng, Nông Thế Tr và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Nông Tiến C, Lý Văn T đã nhận được tài sản nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Lý Trường D phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo, các yếu tố cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Lý Trường D nhận tội phù hợp với biên bản ghi lời khai người làm chứng, lời khai của bị hại và vật chứng của vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 28/6/2021, Lý Trường D gặp Mông Văn Ssinh năm 1997, trú tại xóm SK, xã ĐH, huyện TK có hành vi trộm cắp tài sản của UBND xã KT, huyện TK gồm: 04 (bốn) thanh kim loại hình trụ tròn có giá trị 222.000 đồng (hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Khoảng 13 giờ 30 phút, D gặp Nông Văn Tr1, sinh năm 1994, trú tại xóm PT - PPH - Đ D, xã Ng, huyện TK. Khi đến khu vực xóm BM, xã KT, huyện TK, Lý Trường D có hành vi trộm cắp của anh Hoàng Văn Ng lấy trộm 01 (một) quạt điện, 02 (hai) con dao quắm, 02 (hai) lưỡi cuốc và 01 (một) cưa sắt cầm tay, tổng 5 kg kim loại có trị giá 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng).

Xét lời khai nhận tội của bị cáo, đã khai tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố đối với bị cáo Lý Trường D là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Với những căn cứ trên, Hội đồng xét xử khẳng định bị cáo Lý Trường D đã phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169,170, 171, 172, 174, 175 và Điều 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết pháp luật nhưng do bản thân nghiện ma túy đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do vậy, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tình tiết tăng nặng không có. Tuy nhiên, căn cứ tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, về nhân thân bị cáo D có nhân thân xấu có 01 tiền án. Ngày 29/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 06/8/2020 chấp hành xong chưa được xóa án tích. Nên cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nguồn thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận tại Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã trả lại tài sản cho ông Nông Tiến C, Lý Văn T, Hoàng Văn Ng và Nông Thế Tr theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 09/11/2021 đã nhận đủ. Hội đồng xét xử không xem xét đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lý Trường D phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn,

quyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Trƣờng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Trƣờng D 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01/10/2021.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/6/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lý Trường D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ