vanban.org

Bản án 137/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 31/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Đe dọa giết người” và tội

“Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. 2 Điều 51; điểm d, g, h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tr - Đe dọa giết người và Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội đe dọa giết người (điều 133 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Đe dọa giết người” và tội
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2020/HSST
Ngày 31/07/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Lý.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Đạt.

2. Ông Nguyễn Phúc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân

quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông

Lê Xuân Long, Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 07 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2020/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN TR (tức Tr D), sinh năm 1983 tại Hà Nội; Nơi đăng ký

hộ khẩu thường trú: số 23, tổ 3, ngõ 12, đường Q, Tổ dân phố 7, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông Nguyễn Văn Th và con bà Nguyễn Thị Nh; vợ là Hoàng Yến Ng và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; theo danh chỉ bản số 207 ngày 05/03/2020 tại Công an quận Hà Đông, Hà Nội bị cáo có tiền án, tiền sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 148/2017/HSST ngày 13/7/2017 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra trại ngày 31/8/2019; Nhân thân: + Năm 2006, Công an phường Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; + Ngày 14/11/2011, bị Công an phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 97/2013/HSST ngày 26/6/2013 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 33 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và “Bắt, giữ người trái pháp luật”, ra trại ngày 01/10/2014; + Ngày 02/01/2020, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông khởi tố bị can về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/03/2020 đến ngày 18/06/2020 thì bỏ trốn trong quá trình áp giải đến Tòa án nhân dân quận Hà Đông (hiện đang bị tạm giam tại trại tam giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội trong vụ án “Trốn khi đang bị áp giải” xảy ra tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội từ ngày 21/06/2020 đến nay); Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Bích Ng - sinh năm 1977.

Nơi ĐKHKTT: Căn hộ 2018 CT2 Chung sư The P, thuộc phường L, quận

H, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Ph – sinh năm 1975.

Hiện trú tại: Số nhà 5, dãy A3, Khu B, Trường đại học M, Tổ dân phố 4,

phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (theo văn bản ủy quyền số chứng thực: 16 quyển số 01/2020 – SCT/CK,CĐ ngày 05/06/2020 tại Văn phòng Công chứng Phan Ng – Phố Nối, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên). (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Đỗ Hữu Ph – sinh năm 1976.

Hiện trú tại: Số 20D/9A Yên Ph, Tổ dân phố 4, phường P, quận H, thành

phố Hà Nội. (Vắng mặt).

* Giám định viên:

1. Bà Định Thị Lan H.

2. Ông Hà Quang C.

Đều là Giám định viên kỹ thuật hình sự về súng đạn, Viện Khoa học hình

sự - Bộ Công An. (Đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng từ năm 2018, chị Trần Thị Bích Ng sinh năm 1977, trú tại phòng

2018 CT2 Chung sư The P, thuộc phường L, quận H, thành phố Hà Nội quen biết với Nguyễn Văn Tr. Thời gian gần đây, xuất phát từ quan hệ tình cảm nhưng không được đáp lại nên Nguyễn Văn Tr đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin đe dọa chị Ng, ngăn cấm chị Ng có tình cảm với người khác.

Khoảng 20 giờ ngày 20/02/2020, Nguyễn Văn Tr cầm theo 01 khẩu súng

ngắn (dạng súng côn quay) bên trong có nắp sẵn 06 viên đạn và 06 viên đạn ở ngoài, điều khiển xe máy đi đến gửi tại nhà người quen ở gần cầu La Khê và do thấy chủ nhà đi vắng nên Tr lấy 01 con dao bầu ở trên nóc tủ rồi đi bộ đến nhà chị Ng. Đến nơi, Tr đạp tung cửa nhà chị Ng rồi xông vào tiếp tục đạp cửa phòng ngủ của chị Ng. Lúc này, chị Ng đang ngủ nghe tiếng động mạnh nên tỉnh ngủ và ngồi dậy. Tr rút súng ra chĩa vào thái dương bên phải chị Ng đe dọa: “Hôm nay tao sẽ giết mày”. Chị Ng sợ, khóc lóc van xin. Tr tiếp tục lấy dao dí vào má phải của chị Ng quát “Tao chọc tiết mày”. Chị Ng tiếp tục van xin Tr tha chết. Tr nói “tao chờ mấy tiếng nữa là sinh nhật tao, cũng là ngày tao và mày cùng chết”. Chị Ng hỏi lý do thì Tr nói “Tại sao mày không yêu tao”. Sau đó, chị Ng và Tr ra phòng khách nói chuyện rồi cùng vào phòng đi ngủ. Đến 05 giờ sáng ngày 21/02/2020, chị Ng giả vờ kêu ốm mệt và bảo Tr đi nấu cơm ăn để chị còn uống thuốc. Trong lúc Tr nấu cơm, chị Ng lấy điện thoại nhắn tin cho bạn là chị Bùi Thị Kim T sinh năm 1969, trú tại phường Ph, quận H, nhờ chị T báo cho bảo vệ Chung cư là anh Trương Thế L sinh năm 1981 lên giải cứu chị Ng. Khi thấy anh L và mấy người cùng tổ bảo vệ Chung cư lên phòng 2018 gọi cửa, lợi dụng Tr không để ý, chị Ng mở cửa chạy khỏi phòng đi xuống sảnh tòa nhà cùng với những người bảo vệ của Chung cư, rồi đến Công an phường La Khê trình báo sự việc. Thấy chị Ng chạy ra khỏi phòng, Tr giấu khẩu súng và 06 viên đạn trong túi áo khoác để trong phòng ngủ nhà chị Ng và để lại con dao ở nóc tủ lạnh rồi đi khỏi phòng, bỏ trốn khỏi địa phương.

Trong quá trình trốn, Tr nhiều lần gọi điện, nhắn tin đe dọa giết chị Ng,

làm chị sợ không dám về nhà, phải ở nhờ nhà chị Bùi Thị Kim T.

Khoảng 19 giờ ngày 04/3/2020, Tr mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha

Exciter màu xanh- trắng, biển kiểm soát 29S1-017.06 của anh Đỗ Tiến D sinh năm 1978, trú tại phường Ph, quận H, điều khiển xe máy và đội bộ tóc giả, cầm theo 01 đục sắt đến nhà chị Ng ở phòng 2018 CT2 Chung sư The P phá cửa vào phòng lấy khẩu súng đã cất giấu hôm trước. Sau đó, Tr gọi điện cho chị Ng, chị Ng hẹn gặp Tr tại khách sạn Mường Thanh, thuộc Khu đô thị Xa La, phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Khoảng 01 giờ 30 ngày 05/3/2020, Tr điều khiển xe máy Yamaha Exciter mượn hôm trước đi đến cửa khách sạn Mường Thanh thì nhìn thấy chị Ng. Tr dựng xe tại lối ra vào rồi chạy vào sảnh rút súng hướng về phía chị Ng. Chị Ng bỏ chạy thì Tr đuổi theo nhưng bị lực lượng Công an quận Hà Đông bắt giữ quả tang người cùng vật chứng.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ:

- Thu của Nguyễn Văn Tr khi bị bắt giữ: 01 khẩu súng bằng kim loại,

dạng súng côn quay, có 06 viên đạn trong ổ đạn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 5s màu vàng Imei 352034063571338; 01 bộ tóc giả màu đen; 01 khẩu trang vải; 01 ví da màu đen; 1.680.000 đồng.

- Thu khi dẫn giải Nguyễn Văn Tr đến xác định hiện trường vụ việc tại

Phòng 2018 Chung cư CT2-The P: 01 chiếc đục sắt và 06 viên đạn.

- Thu do chị Trần Thị Bích Ng giao nộp: 01 dao bầu dài khoảng 30 cm,

chuôi gỗ (do Tr để lại tại nhà chị Ng ngày 20/02/2020).

Tại bản kết luận giám định số 1367/C09-P3 ngày 25/3/2020 của Viện

khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận:

- Khẩu súng gửi đến giám định là súng ngắn tự chế kiểu ổ quay cỡ nòng

5,6mm, có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng còn sử dụng để bắn được.

- 12 Viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, không phải

vũ khí quân dụng và sử dụng lắp bắn được cho khẩu súng nêu trên.

- Khi sử dụng súng và đạn gửi đến giám định bắn vào cơ thể người gây

chết hoặc bị thương.

- Dấu vết hằn, lõm dưới đáy 01 viên đạn gửi giám định là do kim hỏa của

khẩu súng trên tác động vào tạo ra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 171/KLGĐ-HĐĐG ngày 19/5/2020

của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng quận Hà Đông, kết luận:

- Cửa ra vào 02 cánh bằng gỗ của căn hộ 1208CT2 The P - L đã qua sử

dụng, cánh bên phải kích thước (228x39)cm bề mặt mép cửa phía trong nứt vỡ khu vực ổ khóa kích thước (12,5x2,5)cm mất phần kim loại gá ổ khóa, nhãn hiệu Huy Hoàng;

- Cửa phòng ngủ kích thước (204x81)cm bằng gỗ của căn hộ 1208CT2-

The P - L đã qua sử dụng, bị vỡ cánh cửa khu vực ổ khóa kích thước (23x8)cm, bung bật khóa nắm tay nhãn hiệu Huy Hoàng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại tại thời điểm định giá là 700.000 đồng.

Trước Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKS-HĐ ngày 29 tháng 05 năm 20 của Viện

kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “Đe dọa giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quận dụng” theo khoản 1 Điều 133 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Tr đã khai nhận hành vi phạm tội của

mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố

Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 133 và khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản

2 Điều 51; điểm d, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Văn Tr từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Đe dọa giết

người”; từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung buộc Tr phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 33 tháng tù đến 39 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Trần Thị Bích Ng không có yêu

cầu bị cáo Tr phải bồi thường gì về phần dân sự, nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

+ Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 1.680.000 đồng thu giữ của Tr, xét đây là tài sản của bị cáo không

liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo Tr.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu vàng imei

352034063571338. Quá trình điều tra đã làm rõ được Tr đã sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội, xét đây là tài sản dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu 01 khẩu súng bằng kim loại dạng côn quay (số hiệu: KH 2010E)

và 10 viên đạn thu giữ của Nguyễn Văn Tr hiện đang lưu giữ tại kho Ban chỉ huy quân sự quận Hà Đông - Hà Nội, giao Ban chỉ huy quân sự quận Hà Đông - Hà Nội xử lý theo thẩm quyền.

Các tang vật còn lại gồm: 01 ví da màu đen; 01 dây lưng màu đen; 01 bộ

tóc giả màu đen; 01 khẩu trang vải; 01 chiếc đục sắt; 01 con dao bầu dài khoảng 30 cm. Nay không con giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Kiến nghị với các cơ quan bảo vệ pháp luật về tình trạng quản lý, mua bán,

sử dụng, súng đạn trong thời gian qua.

Bị cáo, đại diện người bị hại không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội

đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà

Đông, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Tr khai nhận hành vi phạm tội của

mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tang vật đã thu giữ, bản kết luận giám định, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 20/02/2020, xuất phát từ quan hệ tình cảm nhưng không được đáp lại, Nguyễn Văn Tr đã có hành vi đem theo 01 dao nhọn và 01 khẩu súng ngắn tự chế kiểu ổ quay thuộc vũ khí quân dụng, đến nhà chị Trần Thị Bích Ng ở Căn hộ 2018 CT2 Chung sư The P, thuộc phường L, quận H, thành phố Hà Nội đe dọa giết chị Ng. Tiếp đó, khoảng 01 giờ 30 ngày 05/3/2020, tại trước sảnh khách sạn Mường Thanh, thuộc Khu đô thị Xa La, phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Tr tiếp tục có hành vi sử dụng khẩu súng thuộc vũ khí quân dụng nêu trên đuổi theo đe dọa bắn chị Ng. Khi chị Ng bỏ chạy, Tr đuổi theo và bị lực lượng Công an quận Hà Đông bắt quả tang người cùng tang vật. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn Tr đã phạm vào tội “Đe dọa giết người” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 133 và khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội bởi: Tr nhận thức rõ

súng là loại vũ khí quân dụng, chỉ có các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được quản lý nhưng Tr vẫn mua về để sử dụng, sau đó Tr đã dùng chính khẩu súng này để đe dọa bắn chị Ng. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o kh«ng nh÷ng trùc tiÕp x©m h¹i ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn vÒ qu¶n lý vò khÝ qu©n dông, mµ viÖc tµng tr÷ sóng cã thÓ g©y nªn nh÷ng hËu qu¶ rÊt nghiªm träng vÒ ng êi, tµi s¶n. Hµnh vi nµy cßn trùc tiÕp x©m ph¹m trËt tù, an toµn c«ng céng, tÝnh m¹ng, søc khoÎ cña c«ng d©n, tµi s¶n cña Nhµ n íc, c¸c tæ chøc vµ cña c«ng d©n. Xét về nhân thân bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội Tr đã 02 lần có hành vi dùng dao và súng uy hiếp đe dọa giết chị Ng với thái độ hung hãn, ngang ngược, ngay tại nơi có nhiều người qua lại là thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” và “phạm tội có tính chất côn đồ”. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm d, g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với từng tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt

cho bị cáo bởi sau khi vụ án bị phát hiện, tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Tại phiên Tòa đại diện người bị hại đề nghị Hộ đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Do bị cáo phạm nhiều tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 55

của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Tr.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ

luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Song do bị cáo không có việc làm ổn định và không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Tr.

Theo hồ sơ phản ánh thì: ngoài hành vi đang bị xét xử nêu trên thì trước đó

vào ngày 08/12/2019, Nguyễn Văn Tr còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại quán Internet “B” ở số 502, khu giãn dân Y, quận H, thành phố Hà Nội. Ngày 02/01/2020, Trung đã bị Công an quận Hà Đông, Hà Nội khởi tố vụ án, khởi tố bị can cho tại ngoại. Ngày 21/05/2020, Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2020/HSST-QĐ để xét xử Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự vào hồi 14 giờ ngày 18/06/2020 nhưng quá trình dẫn giải đến Tòa bị cáo bỏ trốn. Do hành vi phạm tội nêu trên chưa được Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử, nên Hội đồng xét xử không xét.

Tiếp đó, vào ngày 18/06/2020 trong quá trình áp giải bị cáo Tr đến Tòa án

nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội để xét xử hành vi nêu trên thì bị cáo Tr có hành vi bỏ trốn. Vụ án này đang được Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xét.

Ngoài các hành vi bị truy tố nêu trên, ngày 20/02/2020 và ngày 05/3/2020,

Nguyễn Văn Tr 02 lần phá cửa ra vào và cửa phòng ngủ căn hộ 2018 CT2 Chung sư The P, thuộc sở hữu của chị Trần Thị Bích Ng, gây thiệt hại 700.000 đồng. Tuy nhiên, xét nhân thân Nguyễn Văn Tr chưa bị kết án hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, nên hành vi nêu trên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an quận Hà Đông ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi hủy hoại tài sản hoặc có ý làm hư hỏng tài sản đối với Nguyễn Văn Tr.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh - trắng, biển

kiểm soát 29S1-017.06, thu giữ của Tr. Quá trình điều tra xác định: chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của anh Đỗ Hữu Ph. Ngày 04/03/2020, Khi Tr mượn chiếc xe trên để đi gặp bạn, việc Tr dùng chiếc xe trên vào việc phạm tội anh Ph không biết. Ngày 01/4/2020, Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên cho anh Ph quản lý sử dụng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại là chị Trần

Thị Bích Ng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Theo đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ gồm:

+ Số tiền 1.680.000 đồng thu giữ của Tr, xét đây là tài sản của bị cáo không

liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu vàng imei

352034063571338. Quá trình điều tra đã làm rõ được Tr đã sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội, xét đây là tài sản dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

+ Tịch thu 01 khẩu súng bằng kim loại dạng côn quay (số hiệu: KH 2010E)

và 10 viên đạn thu giữ của Nguyễn Văn Tr hiện đang lưu giữ tại kho Ban chỉ huy quân sự quận Hà Đông - Hà Nội, giao Ban chỉ huy quân sự quận Hà Đông - Hà Nội xử lý theo thẩm quyền.

Các tang vật còn lại gồm: 01 ví da màu đen; 01 dây lưng màu đen; 01 bộ

tóc giả màu đen; 01 khẩu trang vải; 01 chiếc đục sắt; 01 con dao bầu dài khoảng 30 cm. Nay không con giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Đe dọa giết người” và tội

“Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 133; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản

2 Điều 51; điểm d, g, h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Xử phạt: Nguyễn Văn Tr 18 (mười tám) tháng tù về tội “Đe dọa giết người;

18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung buộc Tr phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam của bản án này (từ ngày 05/03/2020 đến ngày 18/06/2020).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa

đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Tr số tiền 1.680.000 đồng, nhưng được tạm giữ

lại để đảm bảo thi hành án (theo giấy nộp tiền vào tài khoản giữa Công an quận Hà Đông và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông tại kho bạc Nhà nước quận Hà Đông ngày 11/06/2020).

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone 5s màu vàng imei 352034063571338, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/06/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.

+ Tịch thu 01 khẩu súng bằng kim loại dạng côn quay (số hiệu: KH

2010E) và 10 viên đạn thu giữ của Nguyễn Văn Tr, hiện đang lưu giữ tại kho của Ban chỉ huy quân sự quận Hà Đông - Hà Nội, giao Ban chỉ huy quân sự quận Hà Đông - Hà Nội xử lý theo thẩm quyền (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận Hà Đông và Ban chỉ huy quân sự quận Hà Đông ngày 11/6/2020).

Tịch thu tiêu hủy: 01 ví da màu đen; 01 dây lưng màu đen; 01 bộ tóc giả

màu đen; 01 khẩu trang vải; 01 chiếc đục sắt; 01 con dao bầu dài khoảng 30 cm, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/06/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.

4. Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, 331,

333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).

Bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đỗ Hữu Ph vắng mặt

tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

Cỡ chữ