vanban.org

Bản án 137/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 24/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đối với bà Võ Thị Yến H.

Buộc bà Võ Thị Yến H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền 7.481.138 đồng (bảy triệu, bốn trăm tám mươi mốt nghìn, một trăm ba mươi tám đồng), trong đó: gốc là 5.385.387 đồng (năm triệu, ba trăm tám mươi l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Đ + Võ Thị Yến H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đối với bà Võ Thị Yến H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2020/DS-ST
Ngày 24-12-2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Kim Thạnh

2. Ông Phạm Ngọc Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2020/TLST-DS, ngày 13 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 372/2020/QĐXXST-DS, ngày 09 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Địa chỉ: Đường P, phường Z, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T - Chủ tịch Hồi đồng quản trị (theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số xxxxxxxxxx, đăng ký thay đổi lần đầu ngày 08/4/1992, đăng ký thay đổi lần thứ 39, ngày 11/9/2015 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc V - Nhân viên Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang (theo Quyết định ủy quyền ngày 21/7/2020). (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Võ Thị Yến H, sinh năm 1969

Cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết ông Nguyễn Quốc V là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi là Ngân hàng) có cho bà Võ Thị Yến H vay số tiền 20.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00844310-0161593401T18005, ngày 01/02/2018 được ký kết giữa bên cho vay Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang với bên vay bà Võ Thị Yến H, Thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày bên vay rút vốn đầu tiên; Lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Mục đích sử dụng bổ sung vốn sản xuất, kinh doanh; Phương thức thanh toán: nợ gốc và lãi vay được bên vay trả góp thành 12 kỳ bằng nhau, chi tiết theo từng kỳ đính kèm theo hợp đồng vay; Hình thức bảo đảm nợ vay: không có tài sản bảo đảm.

Tính đến ngày 26/6/2020, bà H đã thanh toán được số tiền gốc và lãi là 16.830.000 đồng và từ đó đến nay không trả nữa dù Ngân hàng đã đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần. Do bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu bà H có trách nhiệm trả số tiền 7.481.138 đồng, trong đó: gốc là 5.385.387 đồng và lãi tạm tính đến ngày 24/12/2020 là 2.095.751 đồng, gồm lãi trong hạn 184.613 đồng và lãi quá hạn 1.911.138 đồng; yêu cầu bà H tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ.

Theo đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 16/01/2018 của bà Võ Thị Yến H có xác nhận của Hội liên hiệp phụ nữ phường M và Ủy ban nhân dân phường M, trong trường hợp bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì ông Nguyễn Anh D (là chồng bà H) có trách nhiệm trả nợ thay cho bà H đến khi trả dứt nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu bà H có trách nhiệm trả nợ, không yêu cầu ông D phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bà H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn bà Võ Thị Yến H vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa, bà H tiếp tục vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, buộc bà Võ Thị Yến H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.481.138 đồng, trong đó: gốc là 5.385.387 đồng và lãi tạm tính đến ngày 24/12/2020 là 2.095.751 đồng. Kể từ ngày 25/12/2020, bà H còn phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Võ Thị Yến H. Bà H cư trú tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không lý do, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Ngày 01/02/2018, bà Võ Thị Yến H ký Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00844310-0161593401T18005 với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang để vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng; lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng do bà H vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Ngân hàng yêu cầu bà H trả số tiền 7.481.138 đồng, trong đó: gốc là 5.385.387 đồng và lãi tạm tính đến ngày 24/12/2020 là 2.095.751 đồng, gồm lãi trong hạn 184.613 đồng và lãi quá hạn 1.911.138 đồng; yêu cầu bà H tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ.

Trong suốt quá trình giải quyết, bà H đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập. Bà H không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy bà đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00844310-0161593401T18005, ngày 01/02/2018 được ký kết giữa bên cho vay Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh An Giang với bên vay bà Võ Thị Yến H và danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ ngày 01/02/2018 do Ngân hàng lập và có ký xác nhận của bà H để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc yêu cầu bà H có trách nhiệm trả số tiền 7.481.138 đồng, trong đó: gốc là 5.385.387 đồng và lãi tạm tính đến ngày 24/12/2020 là 2.095.751 đồng, gồm lãi trong hạn 184.613 đồng và lãi quá hạn 1.911.138 đồng; yêu cầu bà H tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ.

Về án phí: Bà Võ Thị Yến H phải chịu 374.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005668, ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 357, 463; 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đối với bà Võ Thị Yến H.

Buộc bà Võ Thị Yến H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền 7.481.138 đồng (bảy triệu, bốn trăm tám mươi mốt nghìn, một trăm ba mươi tám đồng), trong đó: gốc là 5.385.387 đồng (năm triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm tám mươi bảy đồng) và lãi tạm tính đến ngày 24/12/2020 là 2.095.751 đồng (hai triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn, bảy trăm năm mươi mốt đồng), gồm lãi trong hạn 184.613 đồng (một trăm tám mươi bốn nghìn, sáu trăm mười ba đồng) và lãi quá hạn 1.911.138 đồng (một triệu, chín trăm mười một nghìn, một trăm ba mươi tám đồng).

Kể từ ngày 25/12/2020, bà Võ Thị Yến H còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

- Về án phí: Bà Võ Thị Yến H phải chịu 374.000 đồng (ba trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được nhận lại (do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh An Giang đại diện nhận thay) số tiền 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005668, ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ