vanban.org

Bản án 137/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội :“Trộm c p tài s n” .

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2019. 2/ Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội :“Trộm c p tài s n” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:137/2019/HSST
Ngày 14 tháng 10 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khả

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Vương Huy Dưỡng

2. Ông Nguyễn Phước Thành

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 10 năm 2018, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận BT xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2018/HSST ngày 29/3/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Minh T; sinh năm: 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 27/128 ĐBP, Phường B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông HKQ và bà NTMD.

Tiền án, tiền sự: không

Tạm giam: 30/6/2019. (Có mặt)

Nhân thân:

- Ngày 15/8/2012 bị công an quận BT bắt vê tội “ Cướp giật tài sản”. Tòa án nhân dân quận BT xử phạt 03 năm tù giam theo bản án số 02/HSST ngày 02/01/2013. Ngày 16/11/2014 chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí.

- Ngày 04/11/2015, Bị Công an quận BT bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ủy ban nhân dân Phường 15, quận BT có Quyết định số 452/QĐ-UNBD ngày 04/11/2015 đưa người vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc.

Người bị hại: Ông Dương Văn C (sinh năm: 1989); Địa chỉ: A4/3 Ấp 1, đường LA1-2, xã B, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 30/6/2019, HUỳNH MINH Tđang ở nhà bạn gái ở đường Đ, Phường 1, quận BT thì KVL (thường gọi là B) sử dụng xe Honda PS (không rõ biển số) đến gặp rủ T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý nên lấy bộ dụng cụ bẻ khóa xe mua từ trước cất vào túi sau rồi lên xe cho L chở đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi L chở T đến trước số nhà 8/30 Nguyễn Thiện Thuật, Phường 24, quận BT thì T nhìn thấy xe Honda AirBlade, biển số 67L1-606.91 của anh Dương Văn C đang để trước nhà, không người trông coi nên T kêu L dừng xe, T đi bộ đến vị trí để xe còn L chạy xe đi. T đến dùng mũi đoản đưa vào ổ khóa công tắc xe, dùng cờ lê chữ L tra vào mũi đoản để bẻ khóa công tắc xe thì mũi đoản bị gãy nên T cất cờ lê cùng 01 phần mũi đoản còn lại vào túi quần rồi dẫn xe đi đến cạnh quán cà phê số 22/15 Huỳnh Đình H, Phường 24, quận BT cất giấu. T đi bộ ra giao lộ Huỳnh Đình H – Phan Bội C gọi điện cho L nhưng L không nghe máy nên T gọi điện cho bạn tên H (không rõ lai lịch) nhờ H đẩy xe về nhà. Khoảng 15 phút sau, H điều khiển xe Honda Dream (không rõ biển số) đến chở T đến cạnh quán cà phê số 22/15 Huỳnh Đình H, phường 24, quận BT, T đi bộ đến vị trí để xe định lấy xe thì bị anh Dương Văn C phát hiện truy hô và bắt giữ T đưa lên Công an phường 24, quận BT lập hồ sơ chuyển Công an quận BT xử lý theo thẩm quyền, H bỏ chạy thoát.

Qua truy xét Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận BT bắt giữ HUỳNH MINH T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng gồm:

- 01 ổ khóa xe mô tô biển số 67L1-606.81 có mũi đoản bị gãy.

- 01 cờ lê hình chữ L, dài khoảng 15cm.

- 01 đoản sắt đầu dẹp dài khoảng 7cm, 01 đoản sắt đầu dẹp dài khoảng 9cm.

- 01 bình xịt hơi cay hiệu JA pepper màu xám đen.

- 01 điện thoại Nokia màu đỏ, 01 điện thoại Oppo màu đen.

- 01 nón vải màu đen hiệu PUSH 1874.

- 01 nón bảo hiểm màu đen.

- 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade màu trắng, biển số 67L1-606.81. Tại bản kết luận định giá số 278/KLĐGTS-TCKH ngày 06/8/2019 của phòng Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận BT kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBlade, biển số: 67L1-606.81 có giá trị: 21.000.000 đồng. Công an phường 24 đã trả lại xe cho anh Bị Hại - 01 USB chứa dữ liệu ghi hình diễn biến vụ trộm cắp tài sản.

- Trách nhiệm dân sự: anh Dương Văn C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 152/CTr-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận BT đã truy tố bị cáo HUỳNH MINH Tvề tội: “Trộm c p tài s n” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận BT thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù giam. Vật chứng đề nghị HĐXX xử lý theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, lời khai của người bị hại và nhân chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

+Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của pháp luật.

+Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điề tra cũng như thẩm tra xét hỏi tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy: Bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô Honda AirBlade, biển số: 67L1-606.91 của Bị hại, trị giá 21.000.000 đồng.Việc bị phát hiện, truy hô, bắt giữ bị cáo là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp. Đây là lỗi cố ý của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm c p tài s n”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

+Xét về tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét bị cáo T là người có nhân thân xấu, cho nên khi lượng hình HĐXX cũng cân nhắc hình phạt đối với bị cáo.

Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản bị cáo phạm tội đã trả cho người bị hại nên HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo theo điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, thể hiện khoan hồng của pháp luật.

Riêng đối với đối tượng tên K văn L, H (không rõ lai lịch), cần kiến nghị cơ quan Điều tra xác minh, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật để xử lý theo quy định.

+Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là Bị Hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng:

- 01 ổ khóa xe mô tô biển số 67L1-606.81 có mũi đoản bị gãy. Xét thấy đây là tang vật của vụ án, không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 cờ lê hình chữ L, dài khoảng 15cm. Xét thấy đây là tang vật của vụ án, không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 đoản sắt đầu dẹp dài khoảng 7cm, 01 đoản sắt đầu dẹp dài khoảng 9cm. Xét thấy đây là tang vật của vụ án, không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 bình xịt hơi cay hiệu JA pepper màu xám đen. Xét thấy đây là tang vật của vụ án, không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 điện thoại Nokia màu đỏ, 01 điện thoại Oppo màu đen. Xét thấy đây là phương tiện liên lạc của bị cáo dùng để thực hiện hành vi trộm cắp của mình, có giá trị nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 nón vải màu đen hiệu PUSH 1874. Xét thấy đây là tang vật của vụ án, không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 nón bảo hiểm màu đen. Xét thấy đây là tang vật của vụ án, không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình ảnh trộm cắp đây là là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên tuyên lưu hồ sơ vụ án;

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng tội danh và khung hình phạt.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội :“Trộm c p tài s n” .

Áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm h, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2019.

2/ Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015;

Tịch thu tiêu huỷ:

- 01 cờ lê hình chữ L, dài khoảng 15cm.

- 01 đoản sắt đầu dẹp dài khoảng 7cm, 01 đoản sắt đầu dẹp dài khoảng 9cm.

- 01 bình xịt hơi cay hiệu JA pepper màu xám đen.

- 01 nón vải màu đen hiệu PUSH 1874.

- 01 nón bảo hiểm màu đen.

Tịch thu sung công quỹ:

- 01 điện thoại Nokia màu đỏ, 01 điện thoại Oppo màu đen.

Lưu hồ sơ vụ án:

- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình ảnh trộm cắp.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2019 giữa Công an quận BT và Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

3/Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ